Ấn phẩm cuối cùng trong đời ông là Tuyển tập Nguyễn Huy Thiệp do công ty Đông A xuất bản để mừng tuổi 70 của ông, cũng là để ông có thêm chút tiền dưỡng bệnh. Tranh "Tướng về hưu" của họa sỹ Thành Chương, in trong "Tuyển tập Nguyễn Huy Thiệp," xuất bản năm 2020.
Nguyễn Huy Thiệp rất chuộng dùng câu đơn.: "Cha tôi tên Thuấn, con trưởng họ Nguyễn. Trong làng, họ Nguyễn là họ lớn, số lượng trai đinh có lẽ chỉ thua họ Vũ. Ông nội tôi trước kia học Nho, sau về dạy học. Ông nội tôi có hai vợ.
Vanvn- Sách "Du hành giữa các văn bản - Nguyễn Huy Thiệp và xã hội Việt Nam sau 1975″ là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống những sáng tác của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.. Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn được nhắc đến như người đã làm thay đổi và tạo ra bước ngoặt cho văn chương Việt Nam từ
2. Đặc điểm của phong cách nghệ thuật. Đặc điểm 1: Phong cách chính là con người nhà văn. Nhà văn Pháp Buy phông nói: "Phong cách ấy là con người". Nó hình thành từ thế giới quan, nhân sinh quan, chiều sâu và sự phong phú của tâm hồn, của vốn sống, sở thích, cá
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp được ví như bông hoa nở muộn trên văn đàn văn học Việt Nam sau 1975. Dù có rất nhiều tranh cãi của dư luận xoay quanh những tác phẩm truyện ngắn của ông nhưng không thể phủ nhận những truyện ngắn của ông mang một phong cách độc đáo và rất thu hút.
7jkeI.
TTO - Xét riêng thể truyện ngắn, phong cách Nguyễn Huy Thiệp thống nhất trong sự biến hóa khó lường trữ tình dân gian, hiện thực khắc nghiệt pha lẫn yếu tố kỳ ảo. Đó còn là truyện kể qua ngôn ngữ sân khấu, với những xung đột được đẩy đến cao trào. Trước khi gây chấn động văn đàn với tác phẩm Tướng về hưu, Nguyễn Huy Thiệp đã công bố trên báo Văn Nghệ hai truyện ngắn Mỵ, Vết trượt. Nếu tiếp tục cách khai thác chất liệu sáng tác và bút pháp của những truyện ngắn này, có lẽ ông vẫn tìm được một vị trí trong văn học sử nhưng không thể trở thành hiện tượng độc đáo gây nhiều tranh cãi như chúng ta chứng kiến suốt ba thập niên văn thế kỷ 20 ở nước ta, trên lĩnh vực văn xuôi hư cấu xuất hiện nhiều văn tài đa dạng, tầm cỡ, nhưng thiết nghĩ hai người có tính cách tân và mang số phận kỳ lạ nhất là Vũ Trọng Phụng và Nguyễn Huy Thiệp. Một người cầm bút trong xã hội thuộc địa; một người trong bối cảnh đất nước thống nhất, hòa bình. Một người vào nghề và hoàn thành sự nghiệp khi tuổi đời còn rất trẻ; một người khởi nghiệp khi đã qua tuổi thanh niên và có nhiều trải nghiệm cay đắng trong cuộc đời. Một người chủ yếu thành công ở thể loại tiểu thuyết; một người đạt đến đỉnh cao nghệ thuật của thể loại truyện những ngôn sứ trong Kinh Thánh từng không được chấp nhận trên quê hương mình, dư luận xã hội đã có lúc không chiều đãi, thậm chí phủ nhận hai văn tài nói trên. Những mũi tên bắn vào tác phẩm Vũ Trọng Phụng chủ yếu khi ông đã nằm xuống, còn Nguyễn Huy Thiệp thì phải chịu trận và chống đỡ với những làn sóng đả kích khi còn đang sức sáng tạo để tiếp tục khẳng định chính hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp là sản phẩm của thời Đổi mới có lẽ cũng đúng, nhưng tác động của thời cuộc may lắm là kích thích và tạo môi trường tương đối thuận lợi cho tác phẩm được công bố. Còn sự thật thì Nguyễn Huy Thiệp là sản phẩm của chính Nguyễn Huy Thiệp, với nội công thâm hậu mà ông rèn luyện trong mười năm dạy học ở Tây Bắc, miền đất của Những ngọn gió Hua riêng về thể truyện ngắn, có thể xếp Nguyễn Huy Thiệp bên cạnh Nam Cao. Phong cách Nam Cao thống nhất trong sự viên mãn; phong cách Nguyễn Huy Thiệp thống nhất trong sự biến hóa khó lường trữ tình dân gian, hiện thực khắc nghiệt pha lẫn yếu tố kỳ ảo. Đó còn là những truyện kể qua ngôn ngữ sân khấu, với những xung đột được đẩy đến cao trào. Không có gì khó hiểu khi nhà thơ trong văn xuôi đó cũng là tác giả của những vở kịch đặc sắc mang chiều sâu tư tưởng. Tiếc là kịch của Nguyễn Huy Thiệp ít được dàn dựng trên sân khấu nên vẫn còn xa lạ với công trống Nguyễn Huy Thiệp để lại hôm nay có lẽ còn lâu lắm mới được lấp đầy. Người đọc chắc chắn sẽ đọc lại Nguyễn Huy Thiệp và lịch sử sẽ còn dành nhiều giấy mực để luận bàn về sự nghiệp của ông. Nguyễn Huy Thiệp người gợi lại dũng khí cho tất cả nhà vănNhà văn Nguyễn Huy Thiệp - tên tuổi đáng chú ý nhất văn đàn Việt Nam trong vài chục năm qua - vừa qua đời lúc 16h45 ngày 20-3 tại nhà riêng sau một thời gian chống chọi với bệnh đột quỵ. Ông hưởng thọ 72 văn Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 20-4-1950 ở Thái Nguyên, nhưng nguyên quán ở Hà tuổi của ông gắn liền với các truyện ngắn như Tướng về hưu, Muối của rừng, Không có vua, Con gái thủy thần, Những người thợ xẻ, Thương nhớ đồng quê, Sang sông, bộ ba truyện ngắn lịch sử Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết... Ngoài ra ông còn viết tiểu thuyết, kịch bản, thơ, tiểu luận. Nhưng thành công hơn cả vẫn là truyện ngắn. Ba cuốn tiểu thuyết đã xuất bản gồm Tiểu long nữ, Gạ tình lấy điểm, Tuổi 20 yêu 2020, kỷ niệm 70 tuổi, Nguyễn Huy Thiệp cùng với Công ty sách Đông A đã cho ra đời một tuyển tập truyện ngắn chọn lọc với những tranh minh họa của những họa sĩ xuất sắc, cũng là bạn bè của ông ở Hà Nội. Cuốn sách tập hợp những truyện ngắn mà nhà văn ưng ý nhất. Từ hơn chục năm nay, ông hầu như gác bút, vui tuổi già với con văn Nguyễn Bình Phương - phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam - đánh giá Nguyễn Huy Thiệp là "một trong những nhà văn gần như là quan trọng số 1 từ sau Đổi mới, người đã gợi lại dũng khí cho tất cả các nhà văn, cho họ thấy thế nào là quyền năng một người viết, quyền thay đổi, quyền khám phá, phản biện xã hội, khiến ta nhìn thấy lại giá trị của nhà văn"."Chắc chắn anh Thiệp sẽ ở lại với lịch sử văn học. Ông thật sự là một nhà văn lớn. Tôi thật sự tiếc bởi ông ra đi sớm. Ông còn thì anh em làng văn cảm giác ấm cúng hơn" - tác giả tiểu thuyết Mình và họ nói về bậc đàn anh văn chương vừa rời cõi tạm trong lúc đi bộ qua những con phố lướt thướt mưa phùn của Hà con người cá nhân, Nguyễn Bình Phương rất trân quý Nguyễn Huy Thiệp, một con người rất lặng lẽ, quyết liệt, tôn trọng bạn bè, đồng nghiệp. Nguyễn Bình Phương còn tiếc nuối hơn khi Nguyễn Huy Thiệp chưa được đánh giá xứng đáng, ông chưa được trao giải thưởng nhà nước, cũng chưa có giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam. "Đây là món nợ lớn nhất của Hội Nhà văn với Nguyễn Huy Thiệp" - phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nhà văn Việt Nam sẽ cùng gia đình nhà văn Nguyễn Huy Thiệp tổ chức tang lễ cho ông, dự kiến tại Nhà tang lễ quốc ĐIỂU Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0 Chuyển sao tặng cho thành viên x1 x5 x10 Hoặc nhập số sao
Có sự nghiệp văn chương đồ sộ, được xem là “của hiếm”, là “hiện tượng độc đáo” thậm chí đến mức gây tranh cãi với các thể loại sáng tác gồm truyện ngắn, kịch, tiểu luận, phê bình văn học, song nhà văn Nguyễn Huy Thiệp thành công nhất là truyện ngắn… Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp 1950 – 2021 Ngày nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã rời cõi tạm sau thời gian dài chiến đấu với bệnh tật, để lại khoảng trống lớn cho văn đàn Việt Nam. Văn học đương đại Việt Nam hơn ba chục năm qua, không thể không nói tới nhà văn Nguyễn Huy Thiệp với hàng loạt truyện ngắn đưa tên tuổi ông lên hàng các tác gia kiệt xuất của văn chương Việt Nam cuối thế kỷ XX. Trong đó, các truyện “Tướng về hưu”, “Không có vua”… được coi là dấu mốc mở đầu cho thời kỳ văn học đổi mới. Nguyễn Huy Thiệp – người tạo ra bước ngoặt trong văn chương Việt Nam sau 1975 Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày tại huyện Thanh Trì, Hà Nội. Thuở nhỏ, ông cùng gia đình lưu lạc khắp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, từ Thái Nguyên qua Phú Thọ, Vĩnh Yên… Vì thế, nông thôn và những người lao động để lại nhiều dấu ấn khá đậm nét trong những sáng tác của ông. Năm 1970, Nguyễn Huy Thiệp tốt nghiệp khoa sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trước khi trở thành người viết chuyên nghiệp, ông đã có nhiều năm là một thày giáo ở miền núi. Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Huy Thiệp bắt đầu khá muộn với các truyện ngắn đăng trên báo Văn Nghệ. Tuy nhiên chỉ một vài năm sau đó, cả làng văn học trong lẫn ngoài nước xôn xao những cuộc tranh luận về các tác phẩm của ông. Với hơn 50 truyện ngắn, 10 vở kịch, 4 tiểu thuyết cùng nhiều tiểu luận, phê bình văn học gây chú ý, Nguyễn Huy Thiệp được xem là một “hiện tượng hiếm” của văn đàn Việt Nam. Các thể loại của ông đa dạng từ truyện ngắn, tiểu thuyết đến cả kịch mang hơi hướng huyền thoại, cổ tích và những góc nhìn táo bạo và đa chiều về làng quê, người lao động. Tên tuổi của ông gắn liền với các truyện ngắn như “Tướng về hưu”, “Muối của rừng”, “Không có vua”, “Con gái thủy thần”, “Những người thợ xẻ”, “Thương nhớ đồng quê”, “Sang sông”… và bộ ba truyện ngắn lịch sử gồm “Kiếm sắc”, “Vàng lửa”, “Phẩm tiết”… Ba cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã được xuất bản gồm “Tiểu long nữ”, “Gạ tình lấy điểm”, “Tuổi 20 yêu dấu”. Các tác phẩm “Tướng về hưu”, “Thương nhớ đồng quê” của ông đã được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh và cũng đã gây tiếng vang… Truyện ngắn của ông cũng được dịch sang nhiều ngôn ngữ như Pháp, Anh, Italy, Thụy Điển, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản, Indonesia… Năm 2007, 2008, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp liên tục nhận Huân chương Văn học Nghệ thuật của Pháp và giải thưởng Premio Nonino của Italy. Năm 2015, ông hoàn thành tiểu thuyết “Vong bướm” và quyết định dừng nghiệp sáng tác ở tuổi 65. Nguyễn Huy Thiệp cũng là một trong 50 tác giả có các tác phẩm, cụm tác phẩm xuất sắc được đề nghị xét tặng Giải thưởng Nhà nước trong lĩnh vực Văn học nghệ thuật 2021. Hai tác phẩm được đề nghị xét giải của ông là truyện ngắn “Tướng về hưu” và “Những ngọn gió Hua Tát”. Sinh thời, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp khiêm tốn tự nhận ông “là một dạng ăn may, may mắn gặp thời” nhưng ông rất xác tín về “phẩm chất của một nhà văn”. Tác giả “Tướng về hưu” dẫn lại “lời của các cụ ngày xưa” mà ông tâm ý chính là lời nói của nhà bác học Lê Quý Đôn 1726-1784 “Văn học không phải trò chơi, là câu chuyện phiếm. Muốn văn hay phải hiểu biết và từng trải nhiều. Văn chương chữ nghĩa không phải là lời nói suông. Trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có núi sông kỳ lạ của thiên hạ thì không thể làm văn được”. Đánh giá về vai trò của Nguyễn Huy Thiệp trong văn chương Việt Nam từ 1975-1991, nhà phê bình La Khắc Hòa nhận định “Nguyễn Minh Châu mở đường đổi mới văn học Việt Nam sau 1975 với truyện ngắn Bức tranh. Còn Nguyễn Huy Thiệp là người đầu tiên tạo ra bước ngoặt quan trọng của đổi mới”. Nhiều nhà nghiên cứu văn học đã nhận định rằng, một mình Nguyễn Huy Thiệp không làm nên được diện mạo của nền văn học Việt Nam sau 1975 đến nay, nhưng một mình ông lại có thể đào xới lên nhiều vấn đề thuộc về bản chất văn học, tạo nên sức bật khỏi ảnh hưởng văn học trước 1975, từ đó đưa văn học Việt Nam sau 1975 đi xa hơn, vững vàng hơn trên hành trình đổi mới văn học dân tộc, hòa nhập vào biển cả văn học hiện đại của thế giới. Thấm đượm trên ngòi bút sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp là tư tưởng triết học tự nhiên, một thứ triết học nguyên sơ, bắt nguồn từ tín ngưỡng phồn thực sâu xa của nền văn hóa cổ Đông Nam Á. Những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp một mặt là sự tiếp nối, bảo lưu nguồn mạch văn học dân gian, mặt khác lại tiếp thu tính hiện đại, đánh dấu bước ngoặt của văn học Việt Nam thời đổi mới, khai phá những chủ đề như cái phi lý, sự cô đơn, tha hóa của xã hội… hòa vào dòng chảy của chủ nghĩa hiện đại trong văn học thế giới thế kỷ XX. Bằng ngòi bút đầy bản lĩnh và tài năng sáng tạo, Nguyễn Huy Thiệp đã làm một cuộc cách mạng trong tư duy nghệ thuật so với truyền thống. Những tác phẩm của ông mang lại cho độc giả một cảm giác vừa thân quen, vừa lạ lẫm, vừa truyền thống, vừa hiện đại. Nét cá tính và phóng khoáng, không bị gò bó bởi khuôn mẫu đã khiến cho văn chương của ông có sức hút một cách kỳ lạ khó có thể diễn tả. Nguyễn Huy Thiệp – “ông vua truyện ngắn” Có sự nghiệp văn chương đồ sộ, được xem là “của hiếm”, là “hiện tượng độc đáo” thậm chí đến mức gây tranh cãi với các thể loại sáng tác gồm truyện ngắn, kịch, tiểu luận, phê bình văn học, song nhà văn Nguyễn Huy Thiệp thành công nhất là truyện ngắn. Trong các tác phẩm nổi tiếng của ông, nổi bật nhất với “Tướng về hưu” phổ biến lần đầu vào tháng 6-1987 trên Báo Văn nghệ – lúc bấy giờ Nguyễn Huy Thiệp còn là nhân viên Công ty Sách – thiết bị trường học thuộc Bộ Giáo dục và “chưa có tên tuổi gì ở trên văn đàn” như ông tự nhận. Với tác phẩm “Tướng về hưu”, điều độc đáo mà bao nhà nghiên cứu phê bình văn học, giới mộ điệu văn chương và công chúng thưởng thức từng bình phẩm, tranh luận suốt hơn 30 năm qua đó chính là câu chuyện, dòng văn độc đáo, khó ai bắt chước trên một cốt truyện lẫn nhân vật bình thường. Thật vậy, những câu đơn với giọng kể chắt lọc, súc tích của ông đi sâu vào tâm trí người đọc dẫu cho nó có chua chát hay nhẹ nhàng. Hiện thực cuộc sống, số phận con người trong xã hội sau chiến tranh từ đó được phản ánh rất mạnh mẽ bằng thủ pháp văn chương rất riêng của Nguyễn Huy Thiệp. Không có cái gì là đơn giản, một chiều trong thế giới nhân vật trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp. Nhà nghiên cứu và phê bình văn học Vương Trí Nhàn nhận định “Nếu có một thứ “quả bóng vàng” hay là “cây bút vàng” dành để tặng cho các cây bút xuất sắc hằng năm, thì trong năm 1987 – và cả nửa đầu năm 1988 – người xứng đáng được giải trong văn xuôi ta, có lẽ là Nguyễn Huy Thiệp. Nhắc tới anh, người ta nhớ “Tướng về hưu” gây xôn xao một dạo, bởi cách viết rạch ròi, trần trụi; nhớ Muối của rừng tưởng như không đâu, hóa ra lại đượm nhiều ngụ ý âm thầm; nhớ “Một thoáng Xuân Hương” lịch duyệt mang đậm phong vị kẻ sĩ Bắc Hà; nhớ “Con gái thuỷ thần” lẫn lộn hư thực, và liều lĩnh đến tùy tiện”. Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ những người nghèo khổ, hay những người mang hình dạng kì dị… tuy mang dáng dấp cổ tích, nhưng lại chất chứa những cảm giác thời hiện đại. Họ luôn luôn dấn thân trên con đường đi tìm hạnh phúc, đi tìm cái Chân, Thiện, Mỹ tuyệt đối, để rồi nhận được những bài học cay đắng, xót xa. Với tuyên ngôn “Tôi căm ghét sâu sắc những kết thúc có hậu”, những truyện ngắn “giả cổ tích”, “giả truyền kỳ” của Nguyễn Huy Thiệp hầu hết đều kết thúc không có hậu. Nó mở ra những dự cảm, những cảm xúc tái tê đằng sau khối cô văn lạnh lùng của một cây bút tỉnh táo, sắc nhạy, khiến cho người đọc cứ thế ngấm dần, ngấm dần và xoáy theo luồng xúc cảm cùng những nhân vật. Với giọng văn “lạnh”, tác giả đã thể hiện một thái độ dửng dưng tuyệt đối đối với nội dung tư tưởng được thể hiện trong tác phẩm. Qua giọng văn ấy, thế giới nhân vật, nội dung câu chuyện luôn hiện ra một chất trung thực, khách quan trước mắt người đọc. Người đọc được tách biệt hoàn toàn so với thiên kiến của tác giả. Độc giả được tự do phán xét nhân vật theo chủ kiến của mình. Trong nhiều truyện ngắn “Không có vua”, “Những bài học nông thôn”, “Tướng về hưu”… tác giả cũng nhập vào vai người kể chuyện nhân vật xưng “tôi” nhưng vẫn cố ý tách ra khỏi câu chuyện để đảm bảo tính khách quan. Để tạo ra được giọng văn “lạnh”, Nguyễn Huy Thiệp dùng nhiều câu trần thuật ngắn gọn, súc tích, mang đậm tính liệt kê. Nguyễn Huy Thiệp rất chuộng dùng câu đơn. Đối với loại câu đơn có xuất hiện thành phần phụ thì thành phần phụ thường được tách ra bằng dấu phẩy. Riêng câu ghép, các vế cũng được tách ra rạch ròi. Điển hình “Cha tôi tên Thuấn, con trưởng họ Nguyễn. Trong làng, họ Nguyễn là họ lớn, số lượng trai đinh có lẽ chỉ thua họ Vũ. Ông nội tôi trước kia học Nho, sau về dạy học. Ông nội tôi có hai vợ. Bà cả sinh được cha tôi ít ngày thì mất, vì vậy ông nội tôi phải tục huyền. Bà hai làm nghề nhuộm vải…” “Tướng về hưu”; hay “Cấn là con trưởng. Dưới Cấn có bốn em trai, chênh nhau một, hai tuổi. Đoài là công chức ngành giáo dục, Khiêm là nhân viên lò mổ thuộc Công ty thực phẩm, Khảm là sinh viên đại học. Tốn, con út, bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng. Nhà lão Kiền sáu người. Toàn đàn ông” “Không có vua”… Những câu văn sắc lạnh dửng dưng như thế có mặt khắp các trang văn của Nguyễn Huy Thiệp. Nó tạo cho tác giả một nét riêng độc đáo về phong cách. Có thể thấy, hầu hết những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đều chứa đựng một hoặc vài lời triết lý của ông về văn chương. Điều đó chứng tỏ, Nguyễn Huy Thiệp là người hay trăn trở về văn chương và ý nghĩa của nó. Những triết lý đó, được phát biểu gián tiếp qua các nhân vật, qua tình huống truyện hoặc đôi khi phát biểu một cách trực tiếp. Trước đây, Nam Cao cũng thường thể hiện những quan niệm của mình trên trang viết của mình. Nhưng với Nguyễn Huy Thiệp, văn chương không đơn giản và rành mạch như Nam Cao. Cái nhìn của ông về văn chương có gì đó rất phức tạp – phức tạp như chính cuộc đời, khi thì “văn chương là thứ bỉ ổi nhất” “Chút thoáng Xuân Hương”, khi thì “văn chương có cái gì từa tựa lẽ phải” “Giọt máu”, khi thì “văn chương có nhiều thứ lắm. Có thứ văn chương hành nghề kiếm sống, có thứ văn chương sửa mình, có thứ văn chương trốn đời, trốn việc. Lại có thứ văn chương làm loạn” “Giọt máu”. Những triết lý đó đã phá vỡ cái khuôn mẫu, từ đó chính ông đã dùng ngòi bút và con mắt tinh tường của mình khiến huyền thoại hóa giải huyền thoại, dùng cổ tích để hóa giải cổ tích. Tinh thần “tự phê”, “tự nghiệm”, ý thức phản tỉnh và tra vấn đã làm nên sức mạnh và giá trị của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Cái tâm của nhà văn, không gì khác hơn, chính là sự thức nhận về sứ mệnh “khơi gợi chân lý”, tra vấn nhân tâm của người nghệ sĩ. Đồng thời, tinh thần nghệ thuật hiện đại cũng không cho phép một sự ban phát chân lý cuối cùng, một tư thế độc thoại giữa nhà văn và bạn đọc. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mang màu sắc dân chủ và hiện đại bởi đó là những tác phẩm “mở”, ở đó, cả người viết và người đọc đều được đẩy vào một cuộc đối thoại lớn và nhà văn “để ngỏ cuộc đối thoại đó mà không đánh dấu chấm hết”. Sự ra đi của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã để lại một khoảng trống rất lớn đối với văn đàn Việt Nam. Đối với nhà văn Nguyễn Văn Thọ “Nguyễn Huy Thiệp mất, tôi mất đi một bạn văn lớn – người chia sẻ với tôi rất nhiều về bút pháp, về vị trí và vai trò của nhà văn trong xã hội. Đồng thời, sự ra đi của anh, tạo ra một lỗ thủng đối với văn đàn Việt Nam”. Còn theo nhà phê bình Văn Giá “trước Nguyễn Huy Thiệp, văn học Việt Nam khác. Từ Nguyễn Huy Thiệp trở đi, văn học Việt Nam khác. Ông đã cắm một dấu mốc rất ghê gớm và quan trọng vào đời sống văn học Việt Nam. Trong đổi mới, có những đổi mới từ từ, từ người này đến người kia. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện năm 1987, đã gây nên một dấu ấn đậm nét. Ông tạo ra một cảm quan, cái nhìn mới về đời sống, dẫn đến một hướng viết mới, một ngôn ngữ mới, một cách biểu đạt mới trong văn xuôi Việt Nam hiện đại. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có sứ mệnh đổi mới văn học; và ông đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình”. Nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng rất đau buồn khi nền văn học nước nhà mất đi một cây đại thụ. Theo ông “thời kỳ 1985-1996, ở mảng truyện ngắn, không ai viết hay hơn Nguyễn Huy Thiệp. Giọng văn của ông có chất riêng, ngắn gọn, sắc nét, không dông dài. Điều mừng là cuối đời ông có tên trong danh sách xét tặng giải thưởng Nhà nước. Đó là ghi nhận xứng đáng cho tài năng của ông”. DIỆP NINH/ TTXVN Xem thêm Thơ 1-2-3 Đặng Ngọc Tam Giang Tận cuối sông chờ… ta gào sóng Huế là em! Nhà thơ Giang Nam đã về với “Quê hương” xanh thẳm Thơ 1-2-3 Lê Lệ Thủy Trang giấy trắng cần cây bút lành viết ý đẹp lời hay Chùm thơ 1-2-3 Phạm Tuyết Hạnh Đường vắng người thưa hun hút phố buồn Cảm thức về phái đẹp trong thơ Hàn Mặc Tử
Vanvn- Nguyễn Huy Thiệp được xem là một hiện tượng tiêu biểu của Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XX. Những sáng tác của ông, đặc biệt ở thể loại truyện ngắn, đã mang đến một làn gió mới cho đời sống văn chương đương đại. Có rất nhiều ý kiến tranh luận xung quanh tác giả đặc biệt này. Khen cũng nhiều mà chê trách, lên án cũng không ít. Trong bài viết này, chúng tôi không nhằm đánh giá cái hay cái dở của ông, chỉ mong “điểm danh” những yếu tố nổi bật về mặt phong cách trong địa hạt truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, góp phần giúp độc giả có thêm những đường kênh đa dạng trong việc khám phá, đánh giá ông. Vấn đề phong cách truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp rất rộng. Nếu khai thác đến nơi đến nơi đến chốn thì mỗi nét đặc trưng trong phong cách của ông xứng đáng phải nằm trong một chuyên luận dài hơi. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chủ ý đi theo “bề rộng” chứ không khai thác sâu. Việc đi sâu khai thác từng khía cạnh chúng tôi sẽ trình bày trong dịp khác. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp 1950 – 2021 Tư liệu khảo sát của chúng tôi là 37 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp in trong tập “Nguyễn Huy Thiệp – Truyện ngắn” được Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2003. Đây được xem là toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Huy Thiệp ở thể loại truyện ngắn. Cũng cần nói thêm, có những truyện ngắn tác giả phân ra thành nhiều truyện nhỏ bên trong như Con gái thủy thần 3 truyện nhỏ, Những ngọn gió Hua Tát 10 truyện nhỏ, chúng tôi chỉ tính một truyện. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có những nét nổi bật về phong cách sau đây 1. Giọng văn lạnh lùng, không sắc thái biểu cảm Đây có thể được xem là nét nổi bật nhất trong phong cách truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Với giọng văn “lạnh”, tác giả đã thể hiện một thái độ dửng dưng tuyệt đối đối với nội dung tư tưởng được thể hiện trong tác phẩm. Qua giọng văn ấy, thế giới nhân vật, nội dung câu chuyện luôn hiện ra một chất trung thực, khách quan trước mắt người đọc. Người đọc được tách biệt hoàn toàn so với thiên kiến của tác giả. Độc giả được tự do phán xét nhân vật theo chủ kiến của mình. Trong nhiều truyện ngắn Không có vua, Những bài học nông thôn, Tướng về hưu… tác giả cũng nhập vào vai người kể chuyện nhân vật xưng “tôi” nhưng vẫn cố ý tách ra khỏi câu chuyện để đảm bảo tính khách quan. Để tạo ra được giọng văn lạnh, Nguyễn Huy Thiệp dùng nhiều câu trần thuật ngắn gọn, súc tích, mang đậm tính liệt kê. Nguyễn Huy Thiệp rất chuộng dùng câu đơn. Đối với loại câu đơn có xuất hiện thành phần phụ thì thành phần phụ thường được tách ra bằng dấu phẩy. Riêng câu ghép, các vế cũng được tách ra rạch ròi. Điển hình “Cha tôi tên Thuấn, con trưởng họ Nguyễn. Trong làng, họ Nguyễn là họ lớn, số lượng trai đinh có lẽ chỉ thua họ Vũ. Ông nội tôi trước kia học Nho, sau về dạy học. Ông nội tôi có hai vợ. Bà cả sinh được cha tôi ít ngày thì mất, vì vậy ông nội tôi phải tục huyền. Bà hai làm nghề nhuộm vải…” Tướng về hưu; hay “Cấn là con trưởng. Dưới Cấn có bốn em trai, chênh nhau một, hai tuổi. Đoài là công chức ngành giáo dục, Khiêm là nhân viên lò mổ thuộc Công ty thực phẩm, Khảm là sinh viên đại học. Tốn, con út, bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng. Nhà lão Kiền sáu người. Toàn đàn ông.” Không có vua Có thể nói, những câu văn sắc lạnh dửng dưng như thế có mặt khắp các trang văn của Nguyễn Huy Thiệp. Nó tạo cho tác giả một nét riêng độc đáo về phong cách. 2. Đưa thơ vào văn xuôi làm tăng hiệu ứng thẩm mỹ Trong số 37 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp được chúng tôi khảo sát thì có tới 26 truyện tác giả có đưa thơ vào chiếm tỉ lệ 70,3%. Điều này cho thấy, việc đưa thơ vào văn xuôi có thể được xem là một đặc trưng trong phong cách của ông. Về nguồn gốc những câu thơ trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp, ta thấy có những đặc điểm sau đây – Thơ mượn của các nhà thơ khác, như trong các truyện Sang sôngmượn thơ Nguyễn Gia Thiều; Chút thoáng Xuân Hương mượn thơ Hồ Xuân Hương; Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt mượn thơ Nguyễn Bính;Nguyễn Thị Lộ mượn thơ Nguyễn Trãi, Kiếm sắc mượn thơ Nguyễn Du; Giọt máu mượn thơ Trần Tế Xương… – Thơ do chính Nguyễn Huy Thiệp sáng tác, như trong các truyện Tướng về hưu; Chảy đi sông ơi; Những bài học ở nông thôn; Huyền thoại phố phường… – Những câu thơ ca dân gian được nhà văn sử dụng lại theo cách của mình, điển hình trong các truyện Con gái thủy thần; Những người thợ xẻ… Về đặc điểm sử dụng thơ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, ta thấy có những nét nổi bật sau – Thơ được dùng làm đề từ, điển hình trong Con gái thủy thần; Chương Chi; Những người thợ xẻ, Phẩm tiết… – Thơ được dùng làm lời hát của các nhân vật, điển hình trong Tướng về hưu, Chương Chi, Những bài học nông thôn; Phẩm tiết… – Thơ là dòng suy nghĩ của nhân vật, điển hình như Những bài học nông thôn suy nghĩ của nhân vật Lâm; Sang sông suy nghĩ của nhân vật ông giáo; Thương nhớ đồng quê suy nghĩ của nhân vật xưng “tôi”; Chăn trâu cắt cỏ suy nghĩ của nhân vật Năng… – Cá biệt, trong truyện ngắn “Tội ác và trừng phạt”, Nguyễn Huy Thiệp dùng thơ thay cho bài tụng của vị sư Lục tổ Huệ Năng. Có thể thấy, việc sử dụng thơ song hành với văn xuôi trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp đã tạo ra những hiệu ứng thẩm mỹ và đặc trưng rõ nét về phong cách. Điều này tạo nên tính giao thoa, sự hòa quyện giữa thơ và văn xuôi. Đó là sự dung hòa tuyệt diệu giữa một thể loại mang đậm tính tự sự và một thể loại mang đậm tính trữ tình. Mặt khác, nó góp phần phá vỡ tính cứng nhắc về nguyên tắc thể loại, giúp tác giả có điều kiện thể hiện đa chiều tư tưởng của mình. Cũng cần nói thêm, việc đưa thơ vào văn xuôi không phải là vấn đề mới. Tuy nhiên, các tác giả trước đây chủ yếu lấy thơ làm đề từ cho văn xuôi Như trong Tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân hoặc đưa thơ vào văn với một tỉ lệ khiêm tốn. Đến Nguyễn Huy Thiệp, tác giả đã sử dụng thơ như một phương tiện nghệ thuật độc đáo và tạo được hiệu ứng thẩm mỹ rõ nét. 3. Kết cấu truyện đặc biệt Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp hầu như chỉ đi theo dòng thời gian tuyến tính. Rất ít sự xáo trộn về mặt kết cấu trong nội bộ câu chuyện. Song, nếu khảo sát kỹ, ta sẽ thấy có điều đặc biệt trong cách mở đầu và kết thúc ở mỗi truyện. Cụ thể, nhà văn thường dùng cách mở đầu mỗi truyện theo lối truyền thống. Lối mở đầu này gần giống như các truyện dân gian truyện cổ tích, truyền thuyết, ngụ ngôn…. Có nghĩa là nhà văn sẽ giới thiệu những nét chung nhất về các nhân vật có mặt trong truyện. Cách giới thiệu của Nguyễn Huy Thiệp thường ngắn gọn, súc tích nhưng mang tính khái quát cao. Ví dụ Trong truyện ngắn Sang sông, tác giả mở đầu “Sang đò có một nhà sư, một nhà thơ, một nhà giáo, một tên cướp, hai tên buôn đồ cổ, hai mẹ con, một cặp tình nhân và chị lái đò.” Chỉ bằng một câu văn, tác giả đã liệt kê hết tất cả nhân vật có mặt trong truyện. Người đọc dễ dàng bao quát hết nhân vật khi bắt đầu tiếp cận tác phẩm. Hay “Nửa đầu thế kỷ trước, ở Kẻ Noi, huyện Từ Liêm có ông Phạm Ngọc Liên là bậc đại phú. Ông Liên xây nhà trên miếng đất đầu làng. Miếng đất này bằng phẳng, rộng ba sào hai thước.” Giọt máu; “Cha tôi tên Thuấn, con trưởng họ Nguyễn. Trong làng, họ Nguyễn là họ lớn, số lượng trai đinh có lẽ chỉ thua họ Vũ. Ông nội tôi trước kia học Nho, sau về dạy học. Ông nội tôi có hai vợ. Bà cả sinh được cha tôi ít ngày thì mất, vì vậy ông nội tôi phải tục huyền. Bà hai làm nghề nhuộm vải…” Tướng về hưu. Trái với cách mở đầu mang tính truyền thống, kết thúc của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp luôn là kết thúc mở. Đặc biệt, ở nhiều truyện, nhà văn tạo dựng nhiều giả thuyết khác nhau cho đoạn kết câu chuyện. Điều này thể hiện rõ nét tính khách quan trong phong cách Nguyễn Huy Thiệp. Tác giả cho phép người đọc tự do chọn lựa một kết cục phù hợp chứ không áp đặt. Kết thúc mở được Nguyễn Huy Thiệp sử dụng nhiều trong nhóm truyện đề tài lịch sử. Điển hình như trong Kiếm sắc, nhân vật Lân đã bị Nguyễn Phúc Ánh xử chém bằng thanh kiếm thần. Tuy nhiên, tác giả lại “chua” thêm một đoạn, kể về giai thoại Đặng Phú Lân và Ngô Thị Vinh Hoa trốn vua Gia Long lên Đà Bắc, giờ vẫn còn con cháu sống trên vùng ấy. Riêng trong truyện ngắn Vàng lửa, Nguyễn Huy Thiệp đã tạo ra 3 đoạn kết khác nhau cho câu chuyện. Đoạn kết 1 nhân vật Phăng bị vua Gia Long đầu độc chết. Đoạn kết 2 Nhân vật Phăng được vua Gia Long cho hồi hương về Pháp và sống đến già trong vinh hoa phú quý. Đoạn kết 3 tác giả không nhắc đến nhân vật Phăng, chỉ cho là Gia Long không muốn người đời biết được mối quan hệ của nhà vua với người châu Âu. Có thể thấy, với ba kiểu kết thúc như vậy, Nguyễn Huy Thiệp đã hoàn toàn tách mình ra khỏi vai trò phán quyết đối với các nhân vật trung tâm. Quyền ấy được trao lại cho độc giả. Trong nhiều truyện khác, tác giả cũng có cách kết thúc mở tương tự. Để tạo ra kết thúc mở, Nguyễn Huy Thiệp thường dùng những yếu tố mang tính hư cấu, mang đậm chất huyền thoại hoặc những lời đồn không đáng tin cậy. Ta có thể bắt gặp điều này trong các truyện Chảy đi sông ơi; Con gái thủy thần, Vàng lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết… 4. Sự nhào nặn lịch sử gây nhiều tranh cãi Khi điểm qua những nét nổi bật về phong cách truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, thiết nghĩ cần phải nhắc đến vấn đề sử dụng các cứ liệu lịch sử trong sáng tác của ông. Mặc dù vấn đề này trước đến nay đã gây ra khá nhiều ý kiến tranh cãi, phần lớn là phê phán, song chúng tôi vẫn nhận thấy đây là một vấn đề cần nhìn nhận một cách thấu đáo dưới góc nhìn phong cách học. Về phương diện này, ta thấy Nguyễn huy Thiệp chỉ thể hiện chủ yếu trong ba truyện ngắn Kiếm sắc, Vàng lửa và Phẩm tiết. Giới nghiên cứu thường gọi đây là nhóm truyện lịch sử của ông. Ba tác phẩm được tổ chức thành một chùm truyện, có sự liên kết về nội dung, cốt truyện, tình tiết. Truyện xoay quanh các nhân vật lịch sử Gia Long Nguyễn Ánh, Quang Trung Nguyễn Huệ, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du… Có nhiều ý kiến cho rằng, việc nhà văn phản ánh khá “trần tục” các nhân vật lịch sử vốn là tượng đài trong tâm thức cộng đồng giống như một hành động “làm méo mó lịch sử”. Tuy nhiên, chúng tôi nhìn nhận vấn đề này ngược lại. Thứ nhất, một yếu tố lịch sử khi được sử dụng, phản ảnh, nhào nặn trong một tác phẩm văn chương nghệ thuật thì ta không nên đồng nhất đó là lịch sử. Mà thực chất, đó chỉ là cách đánh giá chủ quan của nhà văn về một sự kiện, một nhân vật lịch sử nhất định. Đánh giá của nhà văn có thể giống hoặc khác cộng đồng. Thứ hai, Nguyễn Huy Thiệp không hề sử dụng các cứ liệu của chính sử để viết mà ông chỉ dùng những tư liệu mang tính hư cấu, những giai thoại dân gian, những lời đồn đoán mang tính huyền thoại để viết. Đây không thể xem là xuyên tạc lịch sử mà chỉ là một thủ pháp nghệ thuật đặc biệt trong phong cách nhà văn. Thứ ba, trong quá trình sáng tác, nhà văn luôn chú trọng đến yếu tố tiền giả định. Trong 3 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp kể trên, tiền giả định là các “cứ liệu lịch sử” thời Gia Long. Tuy nhiên, ta nhận thấy, nhà văn đã sử dụng những tiền giả định này như một phương tiện nghệ thuật nhằm tạo hiệu ứng cho tác phẩm. Cụ thể, nhà văn đã nhào nặn, đã làm khác đi tiền giả định nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ, hướng đến những nội dung mới lạ, sâu sắc hơn. Thứ tư, nếu tác phẩm văn học mà phản ánh lịch sử một cách nguyên xi thì nó không còn là tác phẩm văn học, nó sẽ trở thành văn bản ghi chép lịch sử. Tạo ra loại văn bản ấy không phải nhiệm vụ của nhà văn mà là nhiệm vụ của nhà sử học. Tác phẩm văn học phải thể hiện một lăng kính khác, một hướng khai thác khác của nhà văn về những điều hiển nhiên của lịch sử. Có như vậy, tác phẩm mới xứng đáng mang một sứ mệnh nghệ thuật cao cả. Từ những phân tích trên, chúng tôi cảm thấy nên ghi nhận việc đưa các yếu tố lịch sử vào truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp như một thủ pháp nghệ thuật, không nên dùng các chủ kiến “phi nghệ thuật” để đánh giá nhóm tác phẩm này như một số học giả đã làm. Thay lời kết Như đã trình bày ở trên, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi rất khó để chuyển tải một cách toàn diện, thấu đáo những đặc trưng về phong cách truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Tuy nhiên, với những kiến giải trong bài viết, người đọc chắc chắn ít nhiều nhận ra những nét riêng trong trang văn của tác giả tài hoa này. Tạo ra một nét riêng, độc đáo về phong cách là điều mà mọi nhà văn luôn muốn hướng đến. Bởi lẽ, đó được xem là dấu hiệu đánh dấu sự khác biệt của nhà văn này với nhà văn khác, là sự khẳng định giá trị của mỗi nhà văn. Nguyễn Huy Thiệp đã tạo dựng cho mình một chỗ đứng trang trọng trên văn đàn nhờ dấu ấn phong cách của ông. Mặc dù còn nhiều ý kiến trái chiều, nhưng chúng tôi vẫn muốn khẳng định Nguyễn Huy Thiệp là cây bút truyện ngắn số một trong nền văn học Việt Nam từ ngày đất nước thống nhất đến nay. TRƯƠNG CHÍ HÙNG Đại học An Giang __________________________ Tài liệu tham khảo 1 Nguyễn Hồng Dũng. Thơ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, ranh giới và sự xâm nhập thể loại, hiệu ứng thẩm mỹ. Kỷ yếu hội thảo khoa học. NXB Đại học Sư phạm Tp. HCM. 2011 2 Định Trọng Lạc. 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt. NXB Giáo dục. 2003 3 Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa. Phong cách học tiếng Việt. NXB Giáo dục. 1998 4 Nguyễn Huy Thiệp. Truyện ngắn. NXB Trẻ. 2003 Xem thêm Nhà thơ Mã Thế Vinh Cái riêng trong cái chung Kiếm tìm sự lộng lẫy từ vết thương thân phận Chùm thơ Khang Quốc Ngọc Kí ức hiện về rát buốt những đòn roi Chùm thơ Mai Hương Giữa ngổn ngang chữ nghĩa Chat GPT có khả năng vi phạm bản quyền nhiều tác phẩm văn học
Luận văn tốt nghiệpLời nói đầuNguyễn Huy Thiệp là một hiện t ợng văn học hết sứcnổi bật của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại nói riêng vàvăn học Việt Nam nói chung. Tác phẩm của ông có giá trịrất cao về nhiều mặt. Chúng tôi xin đ ợc phép chọn mộtvấn đề trong truyện ngắn của ông là ngôn ngữ để tiếnhành làm khoá hoàn thành đ ợc luận văn này chúng tôi rất biết ơncác thầy cô giáo trong khoa ngữ văn , các thầy cô giáotrong tổ ngôn ngữ, đã hết sức tận tình dạy dỗ và giúp đỡtôi. Đặc biệt tôi xin đ ợc gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầygiáo Đoàn Mạnh Tiến - ng ời trực tiếp h ớng dẫn tôi làmkhoá luậnLuận văn này là những b ớc đầu tiên tôi tập d ợtnghiên cứu khoa học. Vì thế chăc chắn rằng nó còn nhiềuthiếu sót cần bổ sung. Tác giả luận văn kính mong đ ợc sựchỉ dạy, đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và tất cả cácbạnXin chân thành cảm ơnVinh, tháng 5 năm 2005Sinh viên thực hiệnHoàng Khánh HngPhần mở đầuI. Lý do chọn đề tàiHoàng Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn1Luận văn tốt nghiệpNguyễn Huy Thiệp xuất hiện trong nền văn học hiện đại Việt Nam đãgây nên một sự chấn động lớn. "Thật hiếm trong văn chơng Việt Nam xa nay,tôi dám chắc là cha có nhà văn nào vừa xuất hiện đã gây đợc d luận, càng viếtd luận càng mạnh, truyện cha ra thì ngời ta đã kháo nhau, truyện đăng rồi thìtranh nhau tìm đọc, đọc rồi thì gặp nhau bình phẩm, bàn tán, chốn phòng văncũng nh chốn vỉa hè đâu đâu cung kháo chuyện... Phạm Xuân Nguyên.Nguyễn Huy Thiệp đợc ngời ta quan tâm nhiều trớc hết là bởi nhữngcách tân mới mẻ trong nghệ thuật. Đề tài của ông không hoàn toàn mới. Nó cómột ít của Vũ Trọng Phụng, của Tô Hoài, của Ma Văn Kháng, một ít của Dơng Thu Hơng, của Nguyễn Thị Thu Huệ... Tuy vậy nó vẫn rất hấp dẫn ngờiđọc. Có đợc điều này là nhờ những cách tân nghệ thuật của tác giả, đặc biệt làtrong cách sử dụng ngôn ngữ. Nguyễn Huy Thiệp đặc biệt tỉ mỉ, kỹ lỡng trongcách miêu tả mọi biến động của cuộc sống. "Tác giả đã không ngần ngại nêulên những sự bê tha nhếch nhác trong cuộc sống, kể cả những sự thật rùng rợn,khủng khiếp..." và "Dẫu là kể chuyện cổ tích, Nguyễn Huy Thiệp trớc sau viếtvề cuộc sống ngày hôm nay. Và tác giả đã nhìn thẳng vào sự thật của đời sốnghiện tại"... Hoàng Ngọc Hiến. Cốt truyện của ông không hề giật gân, mà nóchỉ là cuộc sống bình thờng của ngời dân lao động. Cuộc sống vẫn cứ "thaothiết" chảy, nó chảy vào nhịp của văn chơng. Cuộc sống hỗn loạn, xô bồ. Văncủa Thiệp là cả một tổng thể hỗn loạn sự kiện, nằm trong "lới nhện" của ngôntừ cuốn hút ngời đọc mãnh liệt. Ngời đọc khi đọc truyện cứ nh đang đánh vậtvới ngôn từ. Nói theo cách nói của Đông La là "đọc văn chơng của họ nặngnhọc nh đang lao động sản xuất vậy". Mà đúng là lao động thật, một sự laođộng nghệ thuật nghiêm chúng tôi, ma lực hấp dẫn nhất của truyện ngắn Nguyễn HuyThiệp là con mắt nhìn và sử dụng ngôn từ. Con mắt nhìn cuộc sống thì đầytriết lý, ngôn từ thì rất riêng. Hai vấn đề này quan hệ biện chứng với nhautrong tác phẩm. Phải có con mắt nhìn mới mẻ, đầy phát hiện mới có thể sửdụng từ ngữ một cách xuất sắc, sáng tạo. Ngợc lại phải có cách sử dụng từ ngữđặc biệt mới diễn đạt hết đợc những cách nhìn nhận cuộc sống đầy triết lý ngữ trong truyện ngắn của ông vừa dửng dng lạnh lùng, vừa "xămxoi" khó chịu. Nó khiến cho ngời đọc có lúc thấy hả hê, sung sớng, có lúcthấy xấu hổ e thẹn, có lúc lại bứt rứt khó chịu. Ngôn ngữ của truyện ngắnNguyễn Huy Thiệp đặc sắc từ cách dùng từ, dùng kết cấu câu, đoạn văn đếnHoàng Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn2Luận văn tốt nghiệpcả các biện pháp tu từ nghệ thuật. Nó lôi cuốn ngời đọc bằng cách sử dụngnhững đối thoại, độc thoại và lời dẫn chuyện của tác giả. Nó diễn tả một cái gìđó "vừa thờng xót lại vừa đau đớn". Nó hệt nh một gã khùng luôn bất mãn vàcay cú với cuộc một số ý kiến cho rằng "văn Nguyễn Huy Thiệp có vấn đề". Tôikhông dám chắc "vấn đề" mà họ đề cập đến là nh thế nào. Chúng tôi thì khôngcho là nh vậy. Nguyễn Huy Thiệp chỉ là nhà văn viết lên sự thật của cuộcsống. Văn học tôn thờ sự thật và có tính chất đào thải, loại bỏ tự nhiên. VănThiệp không phải là món ăn lạ miệng, con vật kỳ dị để những ngời hiếu kỳ thởng thức. Trớc sau văn của Nguyễn Huy Thiệp vẫn hớng đến cuộc sống, hớngvào cái thiện, cái của cuộc sống. Nguyễn Huy Thiệp luôn luôn đặt niềm tin vàhớng con ngời đến bản tính thiện vốn có của những lý do rất đặc biệt về truyện ngắn của ông nói chung và ngônngữ của ông nói riêng, chúng tôi xin đợc chọn đề tài "Đặc điểm ngôn ngữtrong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp". Chúng tôi mong rằng sẽ đóng gópmột phần nào đó, giúp ngời đọc, ngời nghiên cứu có thêm cách nhìn khi tiếpcận với các truyện ngắn của Nguyễn Huy Mục đích yêu cầu của đề tàiĐề tài của chúng tôi nhằm thực hiện các mục đích sau1. Tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài vàphòng cách của nhà văn Nguyễn Huy Tìm hiểu khảo sát và phát hiện những đặc điểm tiêu biểu về ngôn ngữcủa nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Qua đó thấy đợc những đóng góp mới mẻ củanhà văn trong cách sử dụng ngôn ngữ và hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụngngôn Khẳng định Nguyễn Huy Thiệp là ngòi bút "táo bạo với những cáchtân mới mẻ, hết sức quan trọng và đáng đợc trân trọng đối với việc sử dụngngôn ngữ. Góp phần làm hiện đại hoá nền văn học Việt Nam hiện Giới hạn đề tài1. Về t liệu khảo bộ t liệu khảo sát chúng tôi đều tiến hành khảo sát trong tập truyệnngắn "Nguyễn Huy Thiệp" Nxb Văn Tập truyện gồm 37 truyệntính cụm "Những ngọn gió Hua Tát" là một truyện.2. Về phạm vi nghiên cứuHoàng Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn3Luận văn tốt nghiệpChúng tôi chỉ mới bớc đầu tìm hiểu những đặc điểm chúng nhất vềngôn ngữ. Tuy vậy cũng do thời gian có hạn, cha thể tìm hiểu hết đợc mà chỉdừng lại ở một số vấn đề về ngôn ngữ mà thôi. Từ đó bớc đầu đa ra một số ýkiến đánh giá nhận xét về ngôn Lịch sử vấn đềNguyễn Huy Thiệp là một nhà văn gây xôn xao d luận, tuy vậy vì ôngmới xuất hiện nên các công trình nghiên cứu về ông cha nhiều. Ông là mộttác giả đã xuất hiện trên văn đàn hơn hai thập kỷ nay, ông đã tạo dựng đợcmột phong cách riêng, nhng nó cũng cần đợc khẳng định trong thời cạnh đó, Nguyễn Huy Thiệp là một hiện tợng văn học hết sức đặcbiệt, "có nhiều phức tạp" và "nhạy cảm" nên các nhà ngôn ngữ cũng dè dặt khivào cuộc. Phần lới các bài viết về Nguyễn Huy Thiệp là những bài viết nhỏ lẻ,đăng rải rác trên một số báo, tạp chí trong và ngoài nớc. Nó đợc tập hợp kháđầy đủ trong cuốn "Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp" do Phạm Xuân Nguyên su tầmvà biên soạn. Tuy vậy những bài viết này hầu hết chỉ dừng lại ở những suynghĩ mang tính chất cảm tính của một số tác giả, độc giả không chuyên, hoặclà những nghiên cứu, nhận xét nhỏ về từng vấn đề nhỏ, cha đúng nghĩa là mộtcông trình khoa học. Ngoài ra cũng có một số khoá luận tốt nghiệp của một sốsinh viên về các vấn đề khác nhau. Đáng chú ý nhất là luận văn thạc sĩ của LêThanh Nga Đại học Vinh.1. Trên phơng diện văn học nói chung thì các tác giả hầu hết chỉ đề cậpđến một số tác phẩm nhất định nh "Tớng về hu" một tác phẩm có tính nghệthuật của Trần Đạo; "về một cách .... Truyện ngắn "Vàng lửa" của Thuỳ Sơng;sự "mơ mộng" và "nghiêm khắc" trong truyện ngắn "Phẩm tiết" của Đỗ VănKhang; "Đoán thiên về Nguyễn Thị Lộ của Nguyễn Huy Thiệp" của Đỗ VănKhang; "Biển không có thuỷ thần" của Đặng Anh Đào...Cũng có những bài viết đánh giá tổng quát toàn bộ tác phẩm của ôngnh "Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp" của Evelipe Pieller; "Về ma lực trongtruyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp" của Đông La; "Tôi không chúc bạn thuậnbuồm xuôi gió" của Hoàng Ngọc Hiến; "Xung quanh sáng tác Nguyễn HuyThiệp" của Hồng bài viết này đều góp phần tìm hiểu phong cách, những đặc điểmlớn của tác giả. Tuy vậy đây là "một hiện tợng văn học phức tạp" nêu ý kiến củacác tác giả vẫn cha đi đến thống nhất. Rất nhiều vấn đề đặt ra và đợc bỏ Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn4Luận văn tốt nghiệp2. Vấn đề ngôn ngữ thì theo chỗ chúng tôi đợc biết đến nay cha có mộtcông trình nào đề cập đến một cách trọn vẹn. Các bài viết hoặc chỉ đặc ra vấnđề trong một tác phẩm nh "Lời thoại trong truyện ngắn "Tớng về hu" củaNguyễn Thị Hơng. Hoặc là một vấn đề về ngôn ngữ nh "Độc thoại - định hớng hành động nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp" của Lê Sao bài viết khác cũng dành một phần nhỏ trong bài viết hoặc côngtrình của mình để nói về ngôn ngữ nh các bài viết của Đông La, Filimônôva,Trần Đạo, Hoàng Ngọc Hiến, ... luận văn thạc sĩ của Lê Thanh Nga...Nh vậy, hầu nh vấn đề ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệpcòn đợc bỏ ngỏ. Nó cha xứng tầm với những đóng góp mà tác giả đã đem lạitrong vấn đề ngôn ngữ. Ngôn ngữ là vấn đề hết sức quan trọng nếu không muốnnói là quyết định tạo nên phong cách của nhà văn Nguyễn Huy tác giả đi trớc mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một số mặt, mộtsố vấn đề về ngôn ngữ. Thực hiện đề tài này, chúng tôi cũng không có thamvọng ngôn ngữ toàn bộ những đặc điểm về ngôn ngữ của truyện ngắn NguyễnHuy Thiệp. Tác giả luận văn chỉ mới tìm hiểu trên một số vấn đề nh cáchdùng từ, đặt câu, đoạn văn, một số biện pháp tu từ... mong bớc đầu dựng lênmột bộ khung toàn diện hơn về ngôn ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn HuyThiệp mà Phơng pháp nghiên cứuĐể thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phơng pháp sau1. Phơng pháp thống kê t liệuVới phơng pháp, này, chúng tôi thống kê và tìm ra những dấu hiệu, yếutố đặc sắc về ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Phơng pháp phân tích xứ lý t liệuTác giả luận văn phân tích, xử lý bằng nhiều cách và phân loại những tliệu khảo sát Phơng pháp so sánh - đối chiếuSau bớc xử lý t liệu, chúng tôi sử dụng phơng pháp so sánh - đối chiếuđể từ đó tìm ra những nét tơng đồng và khác biệt của mỗi loại. Đây chính là cơsở để quy từng nhóm, phân từng loại đặc điểm trong ngôn ngữ truyện ngắnNguyễn Huy Phơng pháp phân tích tổng hợpVề phân tích từng hiện tợng ngôn ngữ riêng lẻ cũng nh việc lý giải mốiquan hệ của một hiện tợng với một hiện tợng cùng loại hay khác loại đợc tiếnHoàng Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn5Luận văn tốt nghiệphành đồng thời với quá trình tổng hợp để rút ra những nhận định phổ quát, quycác hiện tợng riêng lẻ nhằm đi đến kết luận chung một cách phù nhiên các phơng pháp trên không tiến hành một cách riêng lẻ mà sửdụng đồng thời trong quá trình tiến hành làm luận Bố cục của luận vănNgoài phần mở đầu và phần kết luận, phần chính của luận văn gồm 3 chơngChơng I Một số vấn đề giới thuyết chung liên quan đến đề tàiChơng II Một số đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Huy III Vài cảm nhận về nét độc đáo của ngôn ngữ truyện ngắn NguyễnHuy Thiệp trong tơng quan với các tác phẩm Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn6Luận văn tốt nghiệpPhần nội dungChơng IMột số vấn đề giới thuyết chung liên quan đến đề tàiTrớc khi nghiên cứu vấn đề ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn HuyThiệp chúng tôi xin đợc đề cập đến một số vấn đề về giới thuyết liên quan đếnđề tài. Đặc điểm ngôn ngữ là một vấn đề về phong cách. Vì vậy trong chơngnày chúng tôi cũng sẽ đề cập đến phong Phong cáchTừ "phong cách" hiện nay đợc sử dụng rất rộng rãi trong đời sống, ởnhiều lĩnh vực khác nhau. Hầu nh ở bất kỳ lĩnh vực nào ngời ta cũng có thể sửdụng từ "phong cách" nh phong cách ăn mặc; phong cách sống; phong cáchlàm việc; phong cách ngoại giao; phong cách nói... Trong những trờng hợpnày "phong cách"đồng nghĩa với "tác phong" là tác phong ăn mặc, tác phonglàm việc, tác phong ngoại giao...Không chỉ trong đời sống hàng ngày mà trong khoa học từ "phongcách" đợc sử dụng hết sức rộng rãi. Phong cách đợc xem là thuật ngữ khoahọc. Trong ngôn ngữ "phong cách" đợc sử dụng rất rõ. Ngôn ngữ mang tínhchất xã hội, trong từng cá nhân, xã hội, lĩnh vực khác nhau thì đợc vận dụngkhác nhau dẫn đến phong cách khác nhau. Trong ngôn ngữ học, "phong cách"là những dạng của ngôn ngữ sử dụng theo mục đích, hoàn cảnh, đối tợng cụthể nào đó, phân biệt với những đặc điểm về từ vựng, ngữ âm, ngữ hạn nh phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ khoahọc, phong cách ngôn ngữ hành chính, phong cách ngôn ngữ báo vậy, khi niệm phong cách hết sức phong phú. Hiện nay nó còn tồntại nhiều khái niệm khác nhau về phong cách, cha đi đến đợc sự thống cạnh khái niệm phong cách còn tồn tại các khái niệm gần gũi nónh khái niệm phơng pháp và khuynh hớng nghệ Phong cách nghệ thuậtPhong cách nghệ thuật là "Một phạm trù thẩm mĩ chỉ sự thống nhất, tơng đối ổn định của hệ thống hình tợng, của các phơng tiện biểu hiện nghệthuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà cách nghệ thuật có thể đợc hiểu trên nhiều khía cạnh khác nhaucủa văn học- Phong cách tác giả- Phong cách thể loại văn họcHoàng Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn7Luận văn tốt nghiệp- Phong cách của một trờng phái, trào lu, khuynyh hớng văn học, trào lunghệ Phong cách của một thời đại nghệ thuật- Phong cách ngôn ngữ nhà văn...Các dấu hiệu của phong cách dờng nh nổi lên trên bề mặt của tác phẩmnh một thể thống nhất hữu hình và có thể tri giác đợc của tất cả các yếu tố cơbản của hình thức nghệ đó ta thấy, dựa vào phong cách chúng ta có thể nhận ra đợc, phânloại đợc giữa các nhà văn này với nhà văn khác, trào lu văn học này với trào luvăn học khác, thậm chí dân tộc này với dân tộc khác. Cái tạo nên sự thốngnhất ở mỗi nhà văn mỗi trào lu, dân tộc thể hiện tập trung ở cách đánh giá,nhìn nhận thể giới khách quan và hệ thống thủ pháp nghệ thuật phù hợp vớicách nhìn nhận ấy. Đặc trng của phong cách là tính thống nhất của các bộphận trong một chỉnh thể, hay còn đợc gọi là tính cấu trúc. Tính chất cấu trúcthể hiện ở chỗ khi chúng ta nhìn nhận đánh giá một bộ phận có thể đánh giáđợc toàn bộ cấu trúc của nó. Chính vì điều này mà có định nghĩa cho rằng"Phong cách là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu,hình thành một cách nhìn lịch sử và chứa đựng một giá trị lịch sự có thể chophép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, một tác giả hay một tác phẩm"Phan Ngọc.Phong cách nghệ thuật có tính bền vững. Tuy nhiên nó cũng có nhữngbiến đổi do sự đòi hỏi của đổi mới văn học để phù hợp với đời sống. Nóichung sự biến đổi này nhìn chung là theo chiều hớng tích cực, kế thừa và pháthuy những điểm tích cực của cái Phong cách ngôn ngữPhong cách là quy luật các yếu tố của một chỉnh thể nghệ thuật. Có baonhiêu yếu tố cấu thành tác phẩm thì có bấy nhiêu phơng diện biểu hiện phongcách nghệ thuật của nhà văn. Phong cách có thể biểu hiện qua đề tài, qua hệthống nhân vật, qua việc lựa chọn thể loại, qua hệ thống các biện pháp nghệthuật, qua hệ thống cảm hứng, đặc biệt là qua ngôn vậy phong cách ngôn ngữ nằm trong phong cách nghệ thuật, nó thểhiện ở việc cá thể hoá ngôn ngữ của tác giả. Một tác phẩm nghệ thuật bao giờcũng là sự thống nhất nhiều yếu tố. Trong đó quan trọng nhất là yếu tố ngônngữ. Nhà văn phải dùng ngôn ngữ để thể hiện ý tởng, suy nghĩ của Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn8Luận văn tốt nghiệpNgôn ngữ không tự nhiên mà có. Ngôn ngữ có tính toàn dân và mang tính xãhội. Nó tồn tại và phát triển lân đới. Ngời nghệ sĩ chọn lọc ngôn ngữ để sửdụng trong tác phẩm sao cho đạt hiệu quả nghệ thuật cao nhất. Nh vậy trongtổng thể ngôn ngữ, tuỳ vào từng nhà văn và tác phẩm khác nhau thì sử dụngngôn ngữ khác nhau. Dĩ nhiên ngôn ngữ lúc này đợc sử dụng mang tính chấtcá thể, mang phong cách cá nhân rõ một phơng diện nào đó, nhà văn là ngời điều hành, tổ chức ngônngữ theo cách riêng của mình. Ngôn ngữ là chất liệu cơ bản để thể hiện hình tợng thẩm mĩ. Mỗi nhà văn do nhiều yếu tố nh t tởng, phong tục tập quán, cátính sáng tạo... mà sử dụng ngôn ngữ theo cách riêng, hình thànhgiọng điệu riêng. Giọng điệu riêng này chính là cái quan trọng nhất tạo nên sựthành bại của đời văn, tạo nên phong cách ngôn ngữ riêng cho mỗi tác đọc khi đọc một câu văn có thể nhận biết đợc nhà văn đó chính là nhờphong cách ngôn ngữ riêng nhà văn luôn tạo cho mình một giọng điệu riêng, một phong cáchriêng. Tuy nhiên phải là những nhà văn xuất sắc mới có thể làm đợc điều Xuân Hơng với giọng điệu sắc sảo, chì chiết nhng vẫn thiết tha, Nam Caovới giọng văn dửng dng lạnh lùng nhng sắc lẹm. Vũ Trọng Phụng với giọngđiệu mỉa mai châm chọc sâu cay, Nguyễn Bính với những câu thơ man mácnhẹ nhàng của đồng quê Việt Nam...Phong cách ngôn ngữ nó thể hiện trên toàn bộ cách sử dụng ngôn ngữtừ việc đợc lựa chọn từ ngữ đến việc sử dụng đặt câu, liên kết cấu, các biệnpháp tu từ... Các nhà văn tạo cho mình phong cách riêng qua cách vận dụngngôn ngữ mà chính xác lại vừa độc đáo. Nghĩa là nó vừa thể hiện đợc chínhxác điều cần diễn đạt, vừa diễn đạt một cách đặc biệt lại vừa nằm trong tổngthể ngôn ngữ dân tộc, Tất cả những phá cách, chệch chuẩn đều đợc toàn dânhiểu và chấp nhận. Chính điều này mà các nhà văn đã góp phần làm hiện đạihoá và phong phú thêm cho ngôn ngữ dân xác định phong cách ngôn ngữ của nhả văn là việc làm đối chiếungôn ngữ của nhà văn đó sử dụng trong tác phẩm với ngôn ngữ của các nhàvăn khác và với ngôn ngữ dân tộc. Khi đối chiếu ta sẽ thấy đợc nhà văn vừa cóđiểm chung vừa có điểm rất riêng, điểm rất riêng ấy chính là phong cáchnghiên cứu của nhà Ngôn ngữ nghệ thuậtNgôn ngữ là chất liệu cơ bản của văn học. Văn học là một loại hìnhnghệ thuật, sử dụng ngôn ngữ. Nh vậy văn học là nghệ thuật sử dụng ngônHoàng Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn9Luận văn tốt nghiệpngữ. Ngôn ngữ nghệ thuật đợc bắt nguồn từ ngôn ngữ toàn dân. Dới tài năngcủa từng nghệ sĩ. Ngôn ngữ đợc vận dụng, sử dụng khác nhau. Nó đợc"chế biến" làm sao khi đi vào tác phẩm đạt đợc hiệu quả nghệ thuật cao văn góp phần mình làm phong phú thêm cho ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở cá tính sáng tạo, phong cách, tài năngcủa ngời nghệ sĩ. Thuộc tính của ngôn ngữ nghệ thuật chính là tính chính xác,tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và tính biểu cảm. Căn cứ để phânbiệt ngôn ngữ nghệ thuật với các loại hình ngôn ngữ khác là ở chỗ ngôn ngữnghệ thuật là thứ ngôn ngữ mang ý nghĩa thẩm mĩ. Tính hình tợng là thuộctính bán chất xuyên suốt, quy định mọi thuộc tính khác trong ngôn ngữ mối quan hệ với văn hoá, khi đã hoá thân vào nghệ thuật thì ngônngữ đã vợt khỏi chức năng sơ đẳng ban đầu, phát huy tối đa tiềm năng củamình để dựng lên một bức tranh tổng hợp và sinh động về bộ mặt tinh thầncủa xã hội. Ngôn ngữ nghệ thuật vừa là công cụ t duy, vừa là phơng tiệnchuyển tải hình tợng nghệ thuật do ngời nghệ sĩ sáng tạo ra. Ngôn ngữ khôngđơn thuần chỉ có nghĩa mà ngôn ngữ còn mang cả nét văn hoá, chiều sâu thẩmmĩ. Muốn chiếm lĩnh đợc nó ngời đọc cũng cần có tri thức về văn hoá, xãhội...Nh vậy ngôn ngữ nghệ thuật đợc chọn lọc và kết tính từ ngôn ngữ toàndân, nó là biểu hiện đầy đủ và rõ nét nhất của ngôn ngữ văn hoá. Nó có khảnăng khơi gợi cho ngời đọc và đem lại giá trị thẩm mĩ cao. Ngôn ngữ nghệthuật mang sắc thái cá nhân của chủ thể sáng tạo. Ngôn ngữ nghệ thuật làngôn ngữ hoạt động mở, nhiều nghĩa phải sinh các sắc thái nghĩa tâm Phong cách thể loạiPhong cách thể loại là nét khu biệt giữa các thể loại với nhau. Mỗi thểloại văn học có một đề tài riêng, nhân vật riêng, cách kết cấu riêng, sử dụngngôn ngữ riêng. Nếu nh sử thi nói đến những đề tài mang tính chất lịch sửtrọng đại, nhân vật là ngời anh hùng dân tộc thì tiểu thuyết đề cập đến số phậncủa cá nhân con ngời, nhân vật là con ngời bình thờng. Nếu tác phẩm lịch đềcao tình huống truyện thì truyện ngắn đi sâu vào từng chi tiết của tác trong thơ tình cảm suy nghĩ của tác giả đợc bộc lộ trực tiếp thì trongtruyện ngắn nó đợc bộc lộ qua hình tợng nhân Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn10Luận văn tốt nghiệpKhi tìm hiểu phong cách của tác giả phải đi sâu vào tìm hiểu phongcách thể loại. Cùng một đề tài, cùng một cảm hứng sáng tạo nhng trên nhữngthể loại sáng tạo khác nhau thì cho những hiệu quả nghệ thuật khác viết về tình yêu nhng thơ của Xuân Quỳnh sẽ khác với truyện ngắn của"Tự lực văn đoàn" nh Hồn Bớm mơ tiên" Nhất Linh; "Nửa chừng xuân" củaKhải Hng. Tất nhiên mỗi thể loại nó đặc biệt phù hợp với một đề tài, một sởtrờng ngôn ngữ của từng tác ca ngợi chiến công của dân tộc trong chiến tranh thì thể trờng ca làphù hợp nhất. Khi nói lên nỗi niềm xót ca đối với ngời đã khuất thì thế vănvẫn nh điếu văn sẽ mang lại hiệu quả tối loại không đồng nhất với phong cách. Nhng chúng ta vẫn có đọctác phẩm mà phân biệt đợc thể loại của nó. Chỉ những thể loại nào có đợc mộtcách nhìn mới riêng thì lúc đó mới có phong cách. Không phải thể loại nàocũng có phong cách Phong cách nhà vănTrong sáng tạo nghệ thuật, bất cứ một nhà văn nào cũng muốn tạo chomình một phong cách riêng nh phong cách Nam Cao, phong cách Xuân Diệu,phong cách Nguyễn Tuân... Tuy vậy phải là nhà văn thực sự có tài, có bản lĩnhmới tạo đợc phong cách riêng. Khi nhà văn tạo đợc phong cách độc giả chỉcần đọc một câu văn cũng có thể nhận biết nó là của tác giả nào tất nhiên độcgiả cũng phải là ngời hiểu biết về văn học. Phong cách của nhà văn trở thànhcác hình mẫu trong văn học. Phong cách là những nét riêng của từng tác giả đợc lặp đi lặp lại trong nhiều tác phẩm, mang tính ổn định và lâu dài. Cái đợclặp đi lặp lại đó có thể là cách dùng từ, cách đặt câu, lối diễn đạt, miên tả củanhà văn...Phong cách của nhà văn chịu sự chi phối của các yếu tố xã hội nh bảnsắc dân tộc, phong tục tập quan nơi nhà văn sinh sống... và các yếu tố củachính cá nhân nhà văn nh yếu tố tâm lý, t tởng thẩm mĩ, t tởng chínhtrị, trình độ thẩm mĩ, trình độ văn hoá. Tất nhiên yếu tố chủ quan là yếu tốquan trọng và quyết định phong cách của nhà một nhà văn đã hình thành đợc phong cách thì phong cách nhà vănsẽ tơng đối ổn định. Tuy nhiên cũng nh văn học, phong cách chịu sự chi phốicủa sự vận động xã hội nên nó cũng có biến động. Nhng những biến động nàylà tuỳ vào từng thời điểm và nó thờng không xa rời phong cách nhà văn. Mộtnàh văn không thể có sự biến động từ phong cách này đến phong cách Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn11Luận văn tốt nghiệpNh vậy, nghiên cứu phong cách nhà văn chính là tìm những nét riêngcủa nhà văn đó so với các nhà văn khác. Đề làm đợc điều này chúng ta cầnkhảo sát một số lợng lớn tác phẩm của nhà văn để tìm ra những yếu tố tạo nênphong cách của nhà văn. Từ đó chúng ta mới có thể rút ra những nhận xét,đánh giá về phong cách của nhà Về thể loại truyện ngắnTruyện ngắn là "thể loại tác phẩm tự sự cỡ nhỏ". Với đặc trng là "ngắn"cho nên nhiều khi làm cho truyện có vẻ gần gũi với các hình thức nh truyệnngắn kể dân gian, giai thoại... hay bài ký ngắn. Thực ra nếu nh nói nh vậychúng ta chỉ mới đánh giá nó ở góc độ dung lợng ngôn từ mà thôi. Thực chấtnó gần với tiểu thuyết hơn cả. Nếu nh tiểu thuyết đi dọc theo chiều dài củacuộc sống thì truyện ngắn là một nhát cắt ngang của cuộc sống. Truyện ngắncó thể kể cả về một cuộc đời con ngời nh "Chí Phèo" Nam Cao hay mộtđoạn đời "Tớng về hu" Nguyễn Huy Thiệp hay một sự kiện trong cuộc sốngnh "Mảnh trăng cuối rừng" Nguyễn Minh Châu.Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sựđầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn đi sâu vào khám phá một nét, một sựkiện. Vì vậy thời gian của truyện ngắn ngắn hơn tiểu thuyết. Số lợng nhân vậtvà sự kiện cũng ít hơn tiểu thuyết. Nếu mỗi nhân vật trong tiểu thuyết là mộtthế giới với bao biến cố lớn lao thì nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏtrong thế giới ấy. Cốt truyện của nó cũng thờng đơn giản hơn tiểu tố quan trọng nhất của truyện ngắn là những chi tiết đặc sắc, đợcchọn lựa một cách kỹ càng, có dung lợng lớn. Lối hành văn nhiều ẩn ý tạo chonó một chiều sâu nhất định mà ngời đọc không dễ gì chiếm lĩnh hết cấu của truyện ngắn thờng là một sự tơng phản, liên tởng khôngchia thành nhiều tầng nhiều bậc nh trong tiểu thuyết hay các thể loại khác. Bútpháp của truyện ngắn thờng là chấm phá hơn là đi vào phân tích miêu tả kỹ lỡng. Tuy nhiên do dung lợng của truyện ngắn và các đặc điểm khác nêntruyện ngắn thờng dễ đọc, thu hút đợc đông đảo độc giả. Có rất nhiều nhà vănnổi tiếng mà không ở thể loại tiểu thuyết chỉ ở thể loại truyện ngắn nhSêkhếp, Gorki, Lỗ Tấn, Môpaxăng, Nam Cao, Nguyễn Huy Thiệp...Tóm lại truyện ngắn là một thể loại của văn học. Nó hình thành khámuộn trong lịch sử văn học nhân loại. Nó mang những đặc trng rất tiêng sovới các thể loại khác. Tuy nhiên ở bất cứ thể loại nào cũng vậy, sự phân chianày chỉ mang tính tơng đối để tiện cho việc tìm hiểu và nghiên Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn12Luận văn tốt nghiệpVIII. Ngôn ngữ truyện ngắnTruyện ngắn bao gồm những chuyện trong đời sống. Những mẩuchuyện vụn vặt đợc nhà văn nhào nặn, sử dụng ngôn ngữ và các thủ pháp nghệthuật để sáng tạo ra ngữ truyện ngắn nh vậy trớc hết là ngôn ngữ đời sống, bắt nguồntừ đời sống. Tuy vậy ngôn ngữ truyện ngắn cũng khác với ngôn ngữ của cácthể loại khác nh thơ, trờng ca, tiểu thuyết, kịch...Thơ thờng đợc các tác già sử dụng ngôn ngữ du dơng và có nhạc điệu,nhịp điệu. Ngôn ngữ truyện ngắn lại khác. Truyện ngắn phản ánh sống con ngời, những lát cắt của cuộc đời nên mang nhiều yếu tố "hỗn loạn" của cuộcsống. Nó cũng có khi du dơng ngân nga, nhng cũng có lúc hiện thực, trần thuyết có quy mô đồ sộ hơn truyện ngắn, Ngôn ngữ của tiểu thuyếtđợc sử dụng rộng rãi hơn, dừng lại ở nhiều hơn lúc miêu tả tâm lý nhân vậtcũng nh không gian, thời gian, Ngôn ngữ truyện ngắn phải thật sự cô đọng,thật sự đa nghĩa để diễn tả hết đợc ý đồ nghệ thuật của tác kịch là xâu chuỗi các đối thoại và độc thoại của nhân vật thì truyệnngắn lại vừa có đối thoại, độc thoại, vừa có những phần miêu tả, phân tích tâmlý nhân vật, miêu tả thiên nhiên, không gian... Ngôn ngữ kịch chủ yếu là ngônngữ của nhân vật, rất ít ngôn ngữ của tác giả. Ngôn ngữ truyện ngắn là sự đanxen giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ của nhà vậy, ngôn ngữ truyện ngắn măng đặc điểm của cả ngôn ngữ thơ,ngôn ngữ tiểu thuyết, ngôn ngữ kịch... Tuy vậy nó mang những đặc điểm rấtriêng để không lẫn với đặc điểm ngôn ngữ của các thể loại Nguyễn Huy Thiệp với thể loại truyện ngắn1. Nguyễn Huy Thiệp sinh năm 1950 tại Hà Nội. Ông sinh ra trong mộtgia đình không mấy hạnh phúc. Bố của Nguyễn Huy Thiệp sống với dì ghẻnên hết sức vất vả và cực khổ. Điều này cũng một phần tạo cho ông một cáchnhìn "dữ tợn và hằn học" đối với cuộc sống ngay từ thuở Huy Thiệp lớn lên học khoa Sử của Đại học S phạm Hà khi tốt nghiệp, ông dạy học ở Tây Bắc. Đợc một thời gian, tác giả chuyểnvề công tác ở kho sách của Cục xuất bản. Trong thời gian này ông từng làm cảviệc "buôn lậu" giấy. Tiếp đó ông làm rất nhiều nghề nh vẽ quảng cáo, vẽtranh sơn dầu, làm gốm, mở nhà hàng...Hoàng Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn13Luận văn tốt nghiệpNguyễn Huy Thiệp bắt đầu sáng tác từ thời còn dạy học ở Tây Bắc vàokhoảng những năm 70 nh "Trái tim Hổ", "Con thú lớn nhất", "Nàng Bua"1971.Nguyễn Huy Thiệp đợc đông đảo bạn đọc biết đến là từ lúc cho intruyện ngắn "Tớng về hu". Sau này ông sáng tác khá nhiều và thành công chủyếu là ở thể loại truyện Ngày 20 - 6 - 1987 có thể xem là một ngày đặc biệt của văn chơngViệt Nam. Có một con ngời nói đúng hơn là một nhà văn trẻ đã gióng lên"tiếng chuông báo động sự xuống cấp trong biểu hiện cụ thể của một số chuẩnmực xã hội" trích lời Nguyễn Hoà. Con ngời đó chính là Nguyễn Huy Thiệpvới tác phẩm truyện ngắn "Tớng về hu" đăng trên báo Văn nghệ."Tớng về hu" ra đời đã ngốn biết bao giấy mực của các nhà nghiêncứu, thậm chí của các lớp độc giả khác. Nếu nh nói một cách hơi quá thì "Tớng về hu" là một mốc lớn trong lịch sử phát triển dân tộc. Năm 1987 nghĩa làchỉ sau công cuộc đổi mới một năm, một tác phẩm ra đời trong cái nếp cũ chavội quên khiến ngời ta khó chịu. Tác phẩm viết về ngời lính nhng dới một gócnhìn hoàn toàn khác. Ngời lính mà cái đáng đợc ngời khác quan tâm nhất chỉở đòm một phát là sớng" lời của nhân vật ông Bổng, nghĩa là chỉ có cái chếtlà thanh thản nhẹ nhàng đáng mơ Huy Thiệp trình làng văn học Việt Nam với một tác phẩm đầysự tranh luận nh vậy. Tiếp sau đó là hàng loạt các tác phẩm truyện ngắn khácra đời nh Huyền thoại phố phờng", "Chút thoát Xuân Hơng", "Kiếmsắc", "Vàng lửa", "Phẩm tiết", "Những ngọn gió Hua Tát cụmtruyện...truyện nào của Nguyễn Huy Thiệp cũng gây cảm xúc mạnh mẽ tronglòng ngời đọc, cho dù đó là sự xúc động, sự bứt rứt khó chịu hay một sự tứctối, bức xét theo trình tự thời gian sáng tác thì một trong những truyện ngắnđầu tiên của Nguyễn Huy Thiệp viết về cuộc sống hiện đại là "Cún", đợc viếtnăm 1984."Cún" là một câu chuyện cảm động về khát vọng một "hình nhân mặtđẹp". Một khát vọng đầy bản năng nh rất đáng trân trọng. Cún chẳng có gì,thân phận ăn mày, lại dị tật. Đợc làm bố quả là một điểm ngoài tầm mơ phúc cũng mỉm cời với Cún. Một sự hiểu lầm đĩ thoả đầy khốn nạn củaCô Diệu đã giúp Cún có đợc mơ ớc. Cuộc đời đôi khi thật cồng bằng. Chuyệnđợc đặt trong một tình huống khá khôi hài và bất ngờ. Nhng đây chỉ là cái vỏche đậy ý tởng của Nguyễn Huy Thiệp mà Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn14Luận văn tốt nghiệpTiếp theo dòng cảm xúc đầy nhân văn đấy là tác phẩm "Chảy đi sôngơi" viết năm 1985. Một sự xót thơng cho chị Thắm, một tiếng gọi ráo riết"Đò ơi... ơi đò ! Đò ơi ! Ơi đò !" không có lời đáp trả, nó vang vọng mãi trongkhông gian mênh mông. Những câu hỏi lớn không lời đáp trả "con trâu đen,con trâu đen trong thời thơ ấu của tôi nay ở đâu rồi ?"Tất cả sự nhẹ nhàng, đầu chất thơ đã lùi lại phí sau khi "Tớng về hu"hoàn thành 1985. "Tớng về hu" là sự tổng hợp của các mẩu đối thoại. Haynói đúng hơn thông qua đối thoại mà con ngời cứ hiện dần ra, rõ hơn, cụ loạt sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp đều rất đợc đông đảo bạnđọc, nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc quan tâm. Điều này chứng tỏ ông rấtthành công trong thể loại truyện ngắn. "truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệpkhuấy động tâm can chúng ta, về nhiều phơng diện, đời sống, suy t, văn họcnghệ thuật, triết lý, thân phận con ngời" Đỗ Đức Hiếu và chính Đỗ Đức Hiếucũng khẳng định rằng "Nhịp mạnh trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp làtình yêu. Tình yêu con ngời, tình yêu loài ngời là tinh thần bao trùm tác phẩmcủa anh". Không còn nghi ngờ gì nữa, chính tình cảm chân thành của NguyễnHuy Thiệp dành cho cuộc sống đã khiến độc giả đến với ngắn của anh rất lạ, rất sâu sắc, rất đặc biệt. Nó không hề xa rờivới cách viết á Đông, cũng không lạc hậu với phơng Tây. Truyện ngắn củaanh là truyện ngắn của mọi đối tợng, mọi dân tộc đều có thể đọc đợc, cảm thụđợc. Truyện của anh thoát ra khỏi những ràng buộc về chính trị tầm thờng, vơnlên một tầm cao hơn, một khát vọng lớn lao và đợc truyện theo cách riêng củaông đó chính là con ngời Nguyễn Huy Thiệp từng cho rằng "Tôi sinh năm1950 ở miền Bắc. Tôi thuộc thế hệ nhà văn sau chiến tranh, thế hệ sau đó, cá nhân thực thể không đợc quyền nói đến trong văn học, chính trịbao trùm tất cả. Nhng đến thế hệ tôi, vấn đề cá nhân đã trỗi dậy, tạo nên mộtgiai đoạn mới. Điều tôi quan tâm là nói về cá nhân với những niềm vui và nỗikhổ của nó, những đam mê, hy vọng của nó. Tôi cũng viết về những tình cảmhung bạo, sự hung bạo này có trong quan hệ nhân sinh". Nh vậy những chi tiếttrong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp đều là một biến động của cuộc dù nó trần trụi, ô trọc thì đều đáng tôn trọng. Cho dùđó là điều gì chăng nữa thì ông vẫn đang ca lên bài ca ca ngợi cuộc sống,muốn chắp thêm khát khao hy vọng cho cuộc Huy Thiệp là hiện tợng còn nhiều tranh cãi. Tất cả dờng nh chỉmời là khúc dạo đầu cha ngã ngũ. Trớc mắt tác giả là cả một chặng đờng dàiHoàng Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn15Luận văn tốt nghiệpthử thứch cả tuổi đời lẫn tuổi văn. Chúng tôi những độc giả chân thành trântrọng cái đẹp, cái mới luôn hy vọng ở tác giả một con ngời có tài có thể nói làtài hoa có những cống hiến hơn nữa cho truyện ngắn Việt Nam. Chúc tác giảluôn giữ đợc cái "tâm" vì con ngời vì cuộc sống. Chúng ta hoàn toàn hy vọngsẽ từ đây có một bộ mặt mới, một diện mạo mới cho nền văn học Việt Namnói chung và truyện ngắn Việt Nam nói lại, chúng tôi đã đề cập đến một số vấn đề lý luận có liên quan đếnđề tài. Cụ thể là tìm hiểu và thống nhất những khái niệm nh phong cách,phong cách nghệ thuật, phong cách ngôn ngữ, ngôn ngữ nghệ thuật, phongcách thể loại, phong cách nhà văn. Đồng thời chúng tôi cũng đã tìm hiểu bớcđầu các đặc điểm của thể loại truyện ngắn, phân biệt nó với các thể loại đầu tìm hiểu và đánh giá vị trí và đóng góp của Nguyễn Huy Thiệp đốivới nền văn học Việt Nam hiện Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn16Luận văn tốt nghiệpchơng IIđặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn nguyễn huythiệpi. đặc điểm về từ ngữ1. Sử dụng nhiều từ ngữ thông Ngôn ngữ thông tục là lời ăn, tiếng nói của nhân dân lao động hàngngày. Nó có thể là tiếng la hét, lời cảm thán thể hiện thái độ ái, ôi, a... nhữngtừ ngữ mang sắc thái địa phơng, cá nhân mô, tê, răng, rứa....Biểu hiện sâu sắc và rõ nét nhất của ngôn ngữ thông tục là tiếng chửi,lời nói tục. Tiếng chửi thốt ra khi bản thân ngời chửi có sự bực dọc, không kìmchế đợc bản thân, muốn hạ thấp ngời khác, áp đặt ngời khác theo ý của mìnhhoặc là một lời khen, lời chê. Vì tiếng chửi là đại diện rõ ràng nhất của ngônngữ thông tục nên việc tìm hiểu ngôn ngữ thông tục phần lớn chúng tôi tìmhiểu tiếng chửi, lời nói tục. Biết rằng đây là một vịêc làm cha thật khoa họcnhng vì trình độ cha thể phân định đợc một cách rành mạch giữa ngôn ngữ vănhọc và ngôn ngữ thông tục nên chúng tôi đề xuất phơng án này để đảm bảotính chính xác khi tìm hiểu ngôn ngữ thông tục trong truyện ngắn NguyễnHuy Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn thờng xuyên sử dụng từ ngữthông tục trong tác phẩm của mình. Từ loại mà ông sử dụng hầu hết là cácthực từ nh danh từ, động từ, tính Danh từ Đợc ông sử dụng rất nhiều, nó có thể là danh từ chỉloại, có thể là danh từ tổng hợp...Ví dụ Cái thằng bố ô trọc ấy! Đồ phóng tình phóng đãng! Vị trởnggiả cộc cằn! Nhà lập pháp bẩn thỉu! Tên bạo chúa khốn nạn!"Muối của rừng.Mẹ mày! Ông đánh cho chết mẹ mày đi!""Mẹ mày! Giữ lấy cái mũi!""Đánh đi! Đánh chết mẹ nó đi"Con gái Thủy ThầnNó có thể là danh từ chỉ chất liệu Hát nh cứt Trơng Chi là thứ giảnhân cha thành ngời, những bệnh tật đáng kinh tởm, hoặc là những động vậtbẩn thỉu Tri thức chi mày, lời nh hủi"; "Đổ ruồi nhặng Không có vua.Đồ ngu nh chó Chảy đi sông ơi. Có thể là những loại ngời mà xã hộiHoàng Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn17Luận văn tốt nghiệpkhinh rẻ Đồ gái xề, béo nứt bụng Đời thế mà vui. Hoặc là những bộ phậntế nhị của con ngời Thằng mặt ranh kia! Kề miệng lỗ mà vẫn còn dê ? Tacắt dái mày!" Phẩm tiết ; Một tay dí chim vào đít cái Lợc ; Có hai hòndái qúy nhất thì cắt đi rồi còn đâu" Những bài học nông thôn. Đó có thể là những tính từ Anh khốn nạn lắm, con bé còn íttuổi" Những ngời thợ xẻ; "Anh bỉ ổi hệt nh ba mơi triệu ngời đàn ông cùngthời với anh"; "Cút đi! Đồ đàn ông khốn nạn các anh" Con gái Thủy Thần;"Ba tuổi ranh đã dâm" Đời thế mà vui. Có khi là những động từ Chàng trật quần đái vọt xuống sôngTrơng Chi.Nhân vật sử dụng từ thông tục rất đa dạng Đó có thể là những bậc caonhân nh Đề Thám Ma Nhã Nam, Quang Trung, Nguyễn ánh Phẩm tiết,Nhân vật cổ tích nh Trơng Chi, có thể là những tên lu manh nh Bờng Nhữngngời thợ xẻ,Trùm Thịnh Chảy đi sông ơi, vị tớng nh tớng Thuấn Tớng vềhu. Nó có thể diễn ra trong lời đối thoại hoặc trong lời độc những từ thông tục mà Nguyễn Huy Thiệp sử dụng thì từ cứt đợc ông hay dùng hơn cả. Từ này xuất hiện rải rác trong các truyện. Có truyệnông sử dụng từ cứt tới 13 lần Trơng Chi. Có khi ông dành hẳn một truyệnđể miêu tả và nói về một dạng cứt là phân Giống cà pháo, cà bát rấthợp với việc bón phân tơi, nhất là phân ngời. Ngời ta dùng phân để bón cholúa nhng phân bón cho lúa phải đợc ủ mục ra cho phân chín. Thếnào là ủ phân? Phân tơi có nhiều loại Phân trâu bò, phân lợn, phân gà gọichung là phân chuồng, phân ngời còn gọi là phân bắc nhng đợc a quýhơn cả là phân lợn, phân gà. Phân lợn quý vì nó mát, có thể dùng ngay, bón đợc ngay cho cây mà cây nào cũng hợp. Phân gà cũng qúy nhng phân gà nóng,chỉ hợp cho bón cây ớt mà thôi. Riêng phân ngời phân bắc có lẽ bởi cónhiều đạm, nhiều chất khó phân huỷ nên bón trực tiếpcho cây thì xót, chếtngay, riêng chỉ cây là chịu đợc, lại hợp với bón loại phân này. Nhìn chung, tấtcả các loại phân cần phải đợc ủ ra mới nên dùng. Chuyện ông Móng. Hình nh Nguyễn Huy Thiệp có một cái gì đó bất bình với cuộcsống nên ông liên tiếp văng tục, có lẽ ông muốn tìm về với nguyên hình bảnchất cuộc sống nên ông bê nguyên xi lời ăn tiếng nói của nhân dân vào trongtruyện ngắn của mình. "Ông khinh cả những ngời không dám sống thực, khôngdám lặn sâu dới đáy cuộc đời" Chút thoáng Xuân Hơng nhng Nguyễn HuyThiệp cũng khắt khe với mình rằng Ông khinh cả những kẻ lặn sâu xuốngđáy rồi ngập luôn ở đấy không sao lên đợc" Chút thoáng Xuân Hơng.Hoàng Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn18Luận văn tốt nghiệpNghĩa là phải biết nhận ra cái xấu, cái tốt của cuộc đời, phải biết lựa chọn cácyếu tố của cuộc sống, phải biết giữ mình. Phải là một ngời thật từng trải mớicó thể thực hiện đợc điều này. Không giữ nổi bình tĩnh Nguyễn Huy Thiệpvăng tục, cái tục này dĩ nhiên là rất đời nhng cũng rất thánh. Sự văng tụclà sự phản ánh của tác giả vào cuộc sống xô bồ hôm nay Tôi biết giây phútrốt đời Trơng Chi cũng sẽ văng đấy không phải lỗi ở chàng" TrơngChi. Văng tục là một cách giao tiếp với cuộc sống, để thấy rõ và lột trầnbản chất của nó mà Các lớp từ ngữ Từ Hán ViệtTừ Hán Việt là lớp từ chiếm số lợng rất lớn trong vốn từ tiếng Việt60%. Có rất nhiều tác giả trong tác phẩm của mình sử dụng từ Hán chỉ là những tác phẩm và tác giả trung đại mà ngay cả các tác phẩm,tác giả thời hiện đại cũng vậy Tô Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Khải,Ma Văn Kháng...Nguyễn Huy Thiệp viết khá nhiều truyện ngắn về các nhân vật lịch sửnh Quang Trung, Nguyễn ánh, Đặng Phú Lân Phẩm Tiết, Vàng lửa, Kiếmsắc, Nguyễn Trãi Nguyễn Thị Lộ, Đề Thám Ma Nhã nam. Trong cáctruyện ngắn này, dĩ nhiên sử dụng từ Hán Việt là phù hợp nhất để tái hiện lịchsử. Vì vậy, Nguyễn Huy Thiệp sử dụng rất khi một lời kể của tác giả Nguyễn Phúc ánh ở Gia Định tìm cáchlật đổ Tây Sơn khi này thế đã mạnh. ánh là ngời đa mu, túc kế, tính kiên trìkhông tin ai, lấy chữ hiệp, chữ lễ làm trọng, không coi nhân, nghĩa, lễ, trí, tínra gì" Kiếm sắc.Có khi là lời đối thoại của nhân vật Sâm nói Đại nhân chớ băn khoănvề chuyện cơ hội hay không cơ hội. Điều ấy vô nghĩa. Có điều Quang Trungđang thịnh lễ đời là phải phù thịnh, đại nhân cứ thế mà làm. Ta không phùQuang Trung sợ cơ ngơi này khó bảo toàn, lấy ai tiếp nối? Lính Tây Sơn chỉcho mồi lửa, vu cho tàn quan Tôn Sỹ Nhị là xong. Lúc đó biết kêu ai? Khôngnói đến đại nhân bị hại, bọn Sâm này cũng mất nhiêu cơm Phẩm tiết.Cũng có lúc là một lời phán đoán tiên tri về cuộc đời co ngời "Ông làngời cơ mu, gian hùng, nhng lòng rộnglợng, trọng nghĩa khinh tài, cả đờikhông chịu thiếu thốn tiền nong, vinh hoa, phú quý đủ cả. Cái gì ông cũngtinh tế. Ông là hổ vàng, ngời đời theo ông còn mệt. Tháng này ông cũng cóhạn, xin ông giữ mình Giọt máu.Hoàng Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn19Luận văn tốt nghiệpHiệu quả sử dụng từ Hán Việt của Nguyễn Huy Thiệp thật rõ rệt. Trongtruyện viết về lịch sử từ Hán Việt đem lại một không khí rất Trung đại, nótạo nên chất hiện thực. Khi bà Phơng bói cho Thiều Hoa Giọt máu tác giảđể bà Phơng sử dụng từ Hán Việt tạo nên cho bà một cốt cách đài các, thấy đợc một kiến thức rất uyên thâm, giọng điệu của con ngời có học thời Trung đạiTha bà, bà cốt cách sang quý, mông to đầu nhỏ, đây là tớng mệnh phụ phunhân, từ bé tới lớn không phải vất vả gì, đi đâu cũng đợc mọi ngời yêu hai đời chồng. Miệng cời tơi là chuyện thị phi có nhiều, nhng dù có tội vẫnđợc chồng tha. Trên trán có vệt u tối, nhân trung méoxệch, tháng này đại nạn,sợ rằng khó toàn tính mạng. Những lời nói của bà Phơng đa ngời đọc vàomột không khí trang nghiêm, huyền bí, những từ nh mệnh phụ, nhântrung", "cốt cách", tính mạng, "số"... dẫn ngời đọc đến cõi thần linh, bói toán,tớng Từ địa phơngNguyễn Huy Thiệp là nhà văn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ôngđi nhiều, biết nhiều vì thế mang theo cả hơi thở của mỗi vùng miền Việt Namvào trong tác phẩm của mình, thể hiện qua cách ông sử dụng từ điạ địa phơng là lớp từ dùng riêng cho một cộng đồng dân c nhỏ trênmột địa bàn hẹp nh một vùng, một tỉnh, một huyện. Thậm chí là một làng vớimấy chục nóc trừ văn học dân gian từ địa phơng thờng ít đợc sử dụng trong vănhọc. Tuy vậy, khi nó xuất hiện thì lập tức trở thành một dấu hiệu nghệ thutđáng chú ýTrời ơi em biết khi môThân em hết nhục dày vò năm canhTiếng hát Sông Hơng - Tố HữuTừ mô là phơng ngữ miền Trung. Nó vừa mang vẻ chân thật lại vừacó nét gì đó thống thiết, tủi hờn. Nó mang lại một cảm giác man mác cho Huy Thiệp là ngời đã từng dạy học nhiều năm ở Tây Bắc. Vìvậy, trong tác phẩm của mình ông sử dụng rất nhiều từ địa phơng của đồngbào dân tộc thiểu số vùng này. Qua từ địa phơng, ta có thể thấy đợc những nétvăn hoá rất đặc trng của đồng bào dân tộc Tây Bắc. Điều này thể hiện rõ nétHoàng Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn20Luận văn tốt nghiệpnhất trong cụm truyện ngắng phỏng cổ tích Những ngọn gió Hua Tát Mờitruyện trong bản nhỏ.Những từ nh cây me loi, xeo thịt, khau cút, quản, mờng, sao khun lú- Nàng ủa, xoè, mó nớc, then, vàng kiềng, còn, khèn, bạc hoa xoè, món lạp,côn hơn, con don, con díp... tạo nên một sắc thái đồng bào vùng cao màkhông lẫn với bất cứ vùng nào khác đợc. Nó mang lại một sắc thái vừa đầmấm, vừa giản dị, lại rất chân cạnh đó, Nguyễn Huy Thiệp còn sử dụng từ điạ phơng trong cáchđặt tên nhân vật nh Lù, Hếch, Nàng Sinh, Hà Văn Nó, Sạ, Mùa, Khó, Muôn,Pành... cộng với các địa danh nh Hua Tát, Mờng Hơm... đã góp phần tạo nênmột không khí Tây Bắc, khiến cho ngời đọc nh đang trực tiếp sống trong, sốngcùng với đồng bào ở đây. Ngời đọc cũng cảm nhận đợc những nét văn hoá đặcsắc bằng một sự cảm nhận văn Từ lịch sử - thành ngữ, tục ngữ dân Chúng tôi tạm gọi từ lịch sử là những từ cổ, thờng xuất hiện tronglịch sử mà hiện nay đã ít hoặc không sử dụng nữa. Hơn nữa, những từ này lạimang một không khí rất lịch sử trong tác phẩm. Nó nh tái hiện lại chân thựcvà sinh động lịch sử trớc mắt ngời đọc. Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn viếtnhiều về đề tài lịch sử, dĩ nhiên ông chọn sử dụng lớp từ này nhiều sẽ mang lạihiệu quả cao nhất cho tác phẩm của vật lịch sử đợc đề cập rất nhiều. Có thể là loại bậc vua chúaQuang Trung, Nguyễn ánh Phẩm tiết, Vàng lửa, Kiếm sắc. Những bậc anhhùng nh Đề Thám Ma Nhã Nam, những ngời kiệt xuất Nguyễn TrãiNguyễn Thị Lộ, Hồ Xuân Hơng Chút thoáng Xuân Hơng, Tú Xơng Thơng cả cho đời bạc.Những tổng, tiền Cảnh Hng, quận chúa, võng lọng, chiêu ấm. Nhogiả, từ đờng, lính lệ, công đờng, tri huyện, thánh hiền, thiên di...Chút thoáng Xuân Hơng.Những thâm hậu, đa mu, túc kế, trợng phu, quốc thù, hịch, danh sỹ,chiêu mộ...Kiếm sắc.Những đồng cân, đồng trinh, quan, quách, thân phụ, cung tần, mỹ nữ,phi tần, Đế Vơng, Bệ hạ.Phẩm tiết.Hoàng Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn21Luận văn tốt nghiệpTất cả tạo nên một không khí hết sức cổ kính, lịch sử đợc tái hiện, bóctrần một cách chân thực không thể gợng gạo. Sử dụng và cảm nhận lớp từ nàyđòi hỏi cả tác giả lẫn độc giả có một kiến thức uyên thâm về ngôn Thành ngữ, tục ngữ là lời ăn tiếng nói của nhân dân đợc hìnhthành trong quá trình lao động. Các đơn vị ngôn ngữ này đợc sử dụng nh mộttừ trong cấu trúc văn bản. Khi tác phẩm văn học sử dụng thành ngữ, tục ngữnó tạo đợc nét văn hoá rất riêng của văn học Việt Nam, đồng thời cũng tạonên sự giản dị mộc mạc, gần gũi với nhân nh các nhà văn khác, Nguyễn Huy Thiệp cũng sử dụng thành ngữ,tục ngữ trong tác phẩm của dụ Môn đăng hộ đối, nghĩa tử là nghĩa tận, cáo chết 3 năm quayđầu về núi, khác máu tanh lòng, ngậm miệng ăn tiền, cha đa mẹ đón, nớc mắtcá sấu, khóc nh cha chết.Tớng về hu.Phàm phu tục tử, ba đầu sáu tay, có thực mới vực đợc đạo, tiền oannghiệp chớng.Không có vua.Vinh phân phì da, Kính nhi viên chi, Nhất cử lỡng tiện.Chăn trâu cắt cỏ.Tuy mức độ xuất hiện thành ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệpkhông nhiều, nhng khi xuất hiện thờng đem lại hiệu quả nghệ thuật rất thờng sử dụng rất đúng chỗ và sáng tạo các thành ngữ, tục ngữ đem lạinhững nét nghĩa rất dụ Trong tác phẩm Tớng về hu. Khi bà nội mất và đợc ngời ta nhéttiền vào miệng nh một tục lễ của dân tộc thì đứa cháu hỏi bố Đó có phải là"ngậm miệng ăn tiền" không hả bố?. Nó cho ta một cảm giác rất đau đớn trớcsự ngây thơ của đứa trẻ. Ngời đọc cảm thấy xót xa, rùng rợn trớc một hiệnthực hết sức đau lòng. Rõ ràng, thành ngữ ngậm miệng ăn tiền là có ý phêphán những ngời luôn cúi, tham lam nhng ở đây đợc đặt vào nhân vật là bà nộilại đợc phát ngôn từ đứa cháu nội hoàn toàn không hiểu gì về câu thành ngữtrên. Nó đem lại một hiệu quả nghệ thuật cao. Nó làsự nhầm lẫn của một tác giả cao tay để nói lên một hiện thực đau đớn mộtcách không hề gợng Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn22Luận văn tốt nghiệpNhân vật sử dụng thành ngữ, tục ngữ có nhiều nhng nổi bật hơn cả vẫnlà những ngời dân bình thờng nh ông Cơ Tớng về hu, những ngời va vấpnhiều với cuộc sống nh Bờng Những ngời thợ xẻ.Có khi Bờng sử dụng thành ngữ, tục ngữ nh một thú vui của cuộc là thứ vần vè tiêu khiển kiểu"Thạch Sanh đốn củi trên cho công chúa kéo càng lệch vaiHay"Thơng anh thì để trong lòngXin em đừng có lòng thòng với ai"Có khi là một câu nói rất cay cú, hờn mát kiểu Sống dầu đèn, chết kèntrống", tởng gì mà tởng lạ thế".Qua cách nói vấn vè của Bờng ta có thể nhận thấy anh là một ngời rấttừng trải với cuộc sống, rất gần với nhân dân lao động. Mà anh là một ngờidân lao động Sử dụng lớp từ ngữ hiện đạiNguyễn Huy Thiệp là một nhà văn của nền văn học Việt Nam hiện nhiên, ngôn ngữ của ông sử dụng cũng rất hiện đại, Nguyễn Huy Thiêpị cócách dùng từ hiện đại khiến ngời đọc rợn ngời. Bên cạnh ngôn ngữ của mộtvị vua đầy tính ớc lệ, uy nghiêm là những từ ngữ kiểu thằng mặt xanh kia, kềmiệng lỗ mà vẫn còn dê ? Ta cắt dái mày, Ta cho mày ăn cứt". Rõ ràng đâykhông phải là lớp từ ngữ đợc các vị vua yêu dùng. Yếu tố hiện đại đây làcách dùng từ của Nguyễn Huy Thiệp trong ngữ cảnh và ở đối tợng phát thể hiện đợc xuất sắc nhiều con ngời trong một con ngời. Vua vừa là ngời đứng đầu đất nớc, rất uy nghiêm nhng vẫn là một con ngời phàm tục. Giá trịcuộc sống nh bị đảo lộn. Tốt xấu nhập nhằng. Xét cho đến cùng thì khôngphải giá trị cuộc sống đảo lộn mà con ngời cố gồng mình lên để chống đỡnhững quy định khắt khe của xã là Nhà vua thở dài" "Sứ mệnh đế vơng thật là sứ mệnh khốn nạn- chỉ đợc quyền cao cả, không đợc quyền đê tiện". Những từ ngữ mà vị vuanày dùng cho đến nay cũng rất ít ngời cầm đầu đất nớc giám nói nh thế. Lịchsử vẫn là lịch sử nhng đúng trớc lịch sử, Nguyễn Huy Thiệp có một cách đánhgiá, nhìn nhận hết sức mới lạ. Mới lạ quá cũng khiến nhiều ngời không chịuHoàng Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn23Luận văn tốt nghiệpđựng đợc nhng cũng là đặc điểm khiến cho truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệphấp dẫn ngời hiện đại không hẳn là những từ ngữ vay mợn ngôn ngữ Châu Âu,ngôn ngữ đợc dùng cho những phát minh hiện đại... Vốn từ là một tổng thể cósẵn, dĩ nhiên nó cũng mang quy luật biến đổi theo sự vận động của xã hội, lịchsử. Tuy vậy, nhìn chung chúng rất khó và ít biến đổi. Nhà văn hiện đại hoá từngữ thực chất là cách vận dụng, sắp xếp từ ngữ. Những từ nh thủ dâm" hay"chính trị" là những từ không hề mới nhng khi đợc nhà văn kếthợp tài tình "thủ dâm chính trị" thì đem lại một hiệu quả ngôn ngữ rất mới lạ."Thủ dâm chính trị" là thói lừa phỉnh bản thân mình, dỗ dành mình bằngnhững lý luận chính trị của mình tự đa ra, nó chỉ là cái tạm thời, giả tởng hếtsức có hại. Nó từa tựa nh phép "thắng lợi tinh thần" của Aquy trong truyệnngắn cùng tên của Lỗ lớp từ ngữ nh từ thông tục, từ lịch sử, từ hiện đại... có rất nhiềunhà văn sử dụng. Nhng nét riêng tạo cho Nguyễn Huy Thiệp không thể lẫn vớibất cứ một nhà văn nào khác. Đó chính là cách sử dụng hài hoà, cân đói và rấtsáng tạo các lớp từ lớp từ hoà quyện trong nhau tạo nên nét rất mới nhng rất hài hoà vàkhông hề gợng gạo. Nếu nh Quang Trung chỉ nói là "ta xuất thân áo vải cờđào, vì nớc xả thân, dẹp yên bốn cõi. Thời chiến ta lấy kẻ có sức lực làm điểmtựa. Thời bình ta lấy kẻ trí lực làm điểm tựa. Nay các ông đến đây đều là ngờicó cửa, tức là những ngời có trí lực cả; ta cho ăn, cho uống. Xin các ông vì tamà mở mang công nghệ, bán buôn, làm cho nớc mạnh dân mạnh" Phẩm tiếtthì nó chỉ là một vị vua mang tính chất lịch sử y nguyên nh lịch sử mà làchính sử mà thôi. Nhng nhân vật Quang Trung trong truyện ngắncủa Nguyễn Huy Thiệp còn là "thằng Khải kia, tài bằng cái đấu, khinh ta quáchừng! Trời cho mày sống, cớp không biết bao nhiêu lộc của thiên hạ, ănngon mà không biết đậy mồm, còn chê là lợm. May nhờ phúc tổ, có ít củachìm, nh cái đuôi khô, tháng 3 ngày 8 đa ra gặm, tởng xênh xang ?" Phẩmtiết. Nó cho ta thấy con ngời nhiều mặt trong một con ngời rất đời. Sự hài hoàtrong cách sử dụng tạo nên một "mạng lới" phức hợp đem lại hiệu quả nghệthuật cao. Nó nh một tấm lới đợc đan kết bằng tất cả các cung bậc, mọi yếu tốcủa đời sống. Nó khiến cho độc giả của ông và đời sống không có khoảngcách. Nó không phải là ánh một cách thô thiển đời sống, cũng không nângbổng tô hồng đời sống. Mà nó là thứ nghệ thuật "thần thánh" của ngôn từkhiến cho văn học trở về đúng nghĩa với đời Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn24Luận văn tốt Sáng tạo mới, cách nói mớiNguyễn Huy Thiệp cha đến mức "làm xiếc với ngôn từ" nh NguyễnTuân, nhng trong các truyện ngắn của mình nhà văn cũng đã có rất nhiều sángtạo trong cách dùng từ hay sáng tạo ra từ Huy Thiệp thổi vào trong tác phẩm của mình bằng những cáchkết hợp hết sức xuất sắc và bất ngờ đem đến cho ngời đọc sự thú vị và cũng rấtsâu sắc."Khoa học giả cầy""Nền văn minh Trung Hoa cỡng hiếp""Dòng máu chứa đầy điển tích""Châu Âu chín chắn hẳn lên"Vàng lửahay"lẽ vô thờng lần đầu tiên tìm đến rón rén thăm dò tâm hồn tôi"Con gái thuỷ thầnthêm nữa"Chiều đánh rỗng nội tâm"Thơng nhớ đồng quêvà "Gây men cho lịch sử"Nguyễn Thị LộĐây là những cách kết hợp đem lại hiệu quả nghệ thuật rất cao. Chúngta sẽ rất bất ngờ khi tác giả dùng "Gây men cho lịch sử". Đó là quá trình thíchdục sự phát triển, hâm nóng tâm hồn, nhiệt huyết cho con ngời. Đổ vào tráitim lạnh ngắt của loài ngời một sức sống mới. Điều này thật có trong cách kết hợp "khoa học giả cầy" để nói một cách sâu sắc sựnguỵ biện, sự giả dối. Bản chất "khoa học" là sự sáng tạo và chính xác. Nhng"khoa học giả cầy" lại là sự nhân danh khoa học để đi ngợc lại với nó. Mộtcách sử dụng kết hợp thật đặc sắc, đầy ý cạnh đó, Nguyễn Huy Thiệp cũng góp phần làm đa dạng phong phúthêm vốn từ tiếng Việt."Khi rừng kết muối, đấy là điềm báo đất nớc thanh bình mùa màngphong túc"Muối của rừng.Hoàng Khánh Hng - Lớp 42B2 Ngữ văn25
phong cách nguyễn huy thiệp